- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị Thùy D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! Bản án số: 393 /2018/HS-PT |
Ngày: 13/09/2018
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Với!thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!phúc!thẩm!gồm!có:!
Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Phạm Lương Toản
Các"thẩm"phán:"
1. Bà Nguyễn Thị Hà
2. Bà Đoàn Thị Hương Giang
Thư"ký"tòa"án"ghi"biên"bản"phiên"tòa: Ông Trần Hoàng Tân – Cán bộ Tòa
án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh"tham"gia"phiên"
tòa:"Ông Lê Trung Tuấn - Kiểm sát viên
Hôm nay, ngày 13 tháng 09 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 353
/2018/HSPT, ngày 03/08/2018 đối với bị cáo Bùi Thị Thùy D do có kháng
nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với bản án
hình sự sơ thẩm số 51/2018/HSST ngày 28/06/2018 của Tòa án nhân dân
quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo bị kháng nghị:
!!!!!Bùi! Thị! Thùy! D; giới tính: Nữ; sinh ngày 03.3.1974; nơi đăng ký hộ
khẩu thường trú: 808/6A đường D, Phường 5, quận X, Thành phố Hồ Chí
Minh; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; trình độ học vấn:08/12;Quốc
tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Bùi Trọng T (chết) và bà
Phạm Thị K; Tiền án, tiền sự: không; Hoàn cảnh gia đình; bị cáo có chồng
và 01 con sinh năm 2005 bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 6/2/2018
sau đó được trả tự do ngày 28/6/2018. (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Bùi Thị Thùy Du: Luật sư Y là luật sư
công ty luật TNHH M thuộc đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
Ngoài ra trong vụ án còn có những người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan khác, tuy nhiên do những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan này
không có kháng cáo và không liên quan đến kháng nghị của Viện kiểm sát
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh không triệu tập đối với những người này.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì
nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 23 giờ 35 phút ngày 06/2/2018, các chiến sỹ cảnh sát thuộc
đội 03 phòng cảnh sát phản ứng nhanh (113) Công an Thành phố Hồ Chí Minh, trên đường tuần tra thì phát hiện bà Vũ Thanh D điều khiển xe gắn máy biển số 63B1-58097 chở theo Bùi Thị Thùy D lưu thông trên đường Phạm Văn Hai, quận Tân Bình không đội mũ bảo hiểm nên yêu cầu dừng lại kiểm tra. Qua kiểm tra ban đầu phát hiện trên tay trái của Bùi Thị Thùy D đang cầm 01 gói ny lon chứa tinh thể màu trắng và 01 túi ny lon bên trong chứa 03 viên nón tròn màu xanh, D khai chất tinh thể màu trắng là ma túy đá nên tổ tuần tra đã giao Dung cùng toàn bộ vật chứng cho công an Phường 3, quận T xử lý theo thẩm quyền.
Kết quả xét nghiệm ma túy đối với bà Vũ Thanh Diệp và bị cáo Bùi
Thị Thùy Dc ho thấy cả 2 đều âm tính với chất ma túy.
Theo kết luận giám định số 463/KLGĐ-H ngày 12/2/2018 của phòng
kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện:
+ 03 viên nén màu xanh là ma tuy thể rắn, loại MDMA có khối lượng
là 1,0261 g.
+ Tinh thể màu trắng trong gói nylon là ma túy thể rắn, Loại
Ketamine, khối lượng là 0,5855 g.
Qua quá trình điều tra, Bùi Thị Thùy D khai nhận: D có quen biết
nhiều bạn bè và thường đến bar chơi. Cách 02 tuần trước khi bị bắt, Dung có đến quán bar 212 tại Quận 1 để chơi và quen biết một thanh niên tên Tin (không rõ lai lịch) Tin đã đưa cho D số ma túy trên để D sử dụng nhưng D không sử dụng mà mang về nhà cất giấu. Vào ngày 06/2/2018 có người bạn rủ D đến quán Bar số 85 tại quận Gò Vấp để dự tiệc tất niên, do không có xe nên D có nhờ bà D1 là bạn cùng xóm của D lấy xe chở D đi và D cũng cầm theo số ma túy với mục đích là đến quán bar đề sử dụng. Trên đường đi do không đội mũ bảo hiểm nên bị lực lượng tuần tra công an 113 chặn xe lại kiểm tra và bị phát hiện, D thừa nhận việc mình mang theo ma túy trong người bà D1 hoàn toàn không biết.
Bà Vũ Thị D khai nhận: D là bạn cùng xóm chơi với bà D từ nhỏ,
ngày 06/2/2018 bà D được D nhờ chở D đến quán bar 85 Gò Vấp để dự tiệc do D không có xe. Bà D đã điều khiển xe gắn máy biển số 63B1-58097 do bà D mượn của của ông Trần Văn H thông qua một người bạn tên H (không rõ lai lịch) để chở D đến quán bar dự tiệc tất niên. Trên đường chở D đến quán bar do không đội mũ bảo hiểm nên cả 2 bị công an 113 chặn xe lại để kiểm tra và phát hiện D có mang ma túy, bà D khai nhận là mình hoàn toàn không biết việc D mang theo ma túy trong người.
Cơ quan điều tra đã làm việc với ông Trần Văn H là chủ chiếc xe mô
tô bị thu giữ và ông Hcũng thừa nhận sự việc như bà D khai.
Do không có chứng cứ chứng minh bà Vũ Thị D là đồng phạm với bị
cáo Bùi Thị Thùy D nên các cơ quan tiến hành tố tụng quận Tân Bình không
xem xét xử lý đối với bà Vũ Thị D .
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 51/2018/HS-ST ngày 28/6/2018 của
Tòa án nhân dân quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Thùy D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất
ma túy”
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
Điều 65, Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Bùi Thị Thùy D 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo,
thời gian thử thách là 02 năm.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng
cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Ngày 25/7/2018 Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có
quyết định kháng nghị số 36/QĐ-VKS-P7 với đề nghị Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm, sửa bản án sơ
thẩm theo hướng không cho bị cáo Bùi Thị Thùy D hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa đưa ra ý kiến phát biểu như sau: Tòa án nhân dân quận Tân Bình,
xét xử bị cáo Bùi Thị Thùy D về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có
cơ sở. Tuy nhiên, việc xử phạt bị cáo Bùi Thị Thùy D 01 năm tù nhưng cho
hưởng án treo là chưa nghiêm, chưa thể hiện tính răn đe, phòng ngừa đối với
tội phạm về ma túy. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị
của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh , sửa bản án sơ thẩm
theo hướng không cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo Bùi Thị Thùy D thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ
thẩm đã nêu. Bị cáo rất hối hận về tội phạm do mình gây ra, bị cáo xin Hội
đồng xét xử khoan hồng cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có thể về
chăm sóc gia đình.
Người bào chữa cho bị cáo Bùi Thị Thùy D trình bày: Luật sư là
người trực tiếp bào chữa cho bị cáo từ giai đoạn sơ thẩm, bị cáo đã luôn
thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, kể từ khi được
trả tự do đến nay bị cáo luôn tuân thủ quy định pháp luật chí thú làm ăn.
Theo luật sư, trong lúc này tòa án cần thể hiện tính khoan hồng của pháp luật
để tao điều kiện cho bị cáo được tại ngoại để nuôi con, chăm sóc gia đình.
Theo tinh thần nghị quyết 02 thì việc cho bị cáo hưởng án treo không trái
nghị quyết. Do đó đề nghị HĐXX xem xét bác kháng nghị để bị cáo có thể
về chăm sóc gia đình.
Trong phần tranh luận Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm kháng
nghị.
Tại lời nói sau cùng bị cáo D xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo
được hưởng án treo để nuôi con.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:!
!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu đã được tranh tụng
tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Hồ Chí Minh là trong hạn luật định nên hợp lệ về hình thức.
[2]Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay bị cáo Bùi Thị Thùy D thừa
nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án như lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm được nêu trong bút ký phiên tòa sơ thẩm, biên bản phạm pháp quả tang, kết luận giám định về ma túy, lời khai của những người làm chứng và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Bùi Thị Thùy D đã có hành vi cất giấu ma túy bất hợp pháp để sử dụng với khối lượng ma túy thu giữ được là 1,0261 g ma túy loại MDMA và 0,5855g ma túy loại Kentamine. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Tòa án nhân dân quận Tân Bình đã xét xử bị cáo Bùi Thị Thùy D theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở đúng pháp luật. Tuy nhiên, mức hình phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo mà Tòa án nhân dân quận Tân Bình đã xử phạt bị cáo là chưa nghiêm, chưa thể hiện tính răn đe của pháp luật đối với loại tội phạm về ma túy. Do đó kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ cần được chấp nhận. Nhận định này cũng là nhận định để không chấp nhận bài bào chữa của luật sư bào chữa cho bị cáo Bùi Thị Thùy D.
Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận kháng
nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Tân Bình Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo Bùi Thị Thùy D nhưng không cho bị cáo được hưởng án treo.
Vì"các"lẽ"trên;
Căn cứ Điều 355, khoản 2 Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
QUYẾT!ĐỊNH:!
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí
Minh. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 51 /2018/HS-ST ngày 28/6/2018 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Thùy D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất
ma túy”
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
Xử phạt bị cáo Bùi Thị Thùy D 01 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
bắt bị cáo chấp hành án được khấu trừ thời hạn tạm giam trước đó từ ngày
06/2/2018 đến ngày 28/6/2018.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; (1) - TAND Cấp cao; (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND quận Tân Bình; (1) - P.PC53- CATP; (1) - Sở tư pháp; (1) - Bị cáo; (1) - THA quận Tân Bình; (1) - TAND quận Tân Bình; (1) - Công an quận Tân Bình; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu, Tòa hình sự. T/21!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!(4) | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA ! ! ! ! ! ! ! Phạm!Lương!Toản! ! ! ! ! |