- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Công ty GH - Công ty Doanh Thiên"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ___________________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 392/2019/DSST Ngày: 27/8/2019 V/v: Tranh chấp đòi lại tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Vĩ Bửu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đàm Thu Ánh;
2. Bà Lâm Ngọc Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Trần Việt Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai Vụ án thụ lý số 156/2017/TLST-DS ngày 10/11/2017 về “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2019/QĐST-DS ngày 09/7/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2019/QĐST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2019 giữa:
1. Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Sản xuất GH;
Địa chỉ: xx đường yy, Khu công nghiệp Tân Đông Hiệp, phường Tân Đông Hiệp, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Bích P, sinh năm 1978;
Địa chỉ: xx Quốc lộ yy, phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Trừ mối côn trùng D T;
Địa chỉ: xx , Phường 11, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị Ngọc G, sinh năm 1969;
Địa chỉ: xx , Phường 11, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Đơn khởi kiện và các biên bản lời khai lập tại Tòa án, phía nguyên đơn do bà Lê Thị Bích P là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Vào ngày 25/08/2017, do có sự nhầm lẫn nên Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Sản xuất GH (gọi tắt là Công ty TNHH GH) có làm lệnh chuyển tiền bằng Internet Banking từ Ngân hàng ANZ Việt Nam cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Trừ mối côn trùng D T (gọi tắt là Công ty TNHH D T), chi tiết như sau:
Ngày chuyển: 25/08/2017.
Số tài khoản: 19128884021011.
Tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) - Chi nhánh Chợ Lớn.
Số tiền: 55.000.000 đồng (năm mươi lăm triệu đồng).
Nội dung: GH thanh toán.
Sau khi phát hiện ra sự nhầm lẫn, vào ngày 29/08/2017 Công ty TNHH GH đã yêu cầu Ngân hàng TNHH MTV ANZ Việt Nam hủy lệnh chuyển tiền này.
Sau đó Ngân hàng TNHH MTV ANZ Việt Nam đã liên hệ Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Chợ Lớn (Ngân hàng do Công ty TNHH D T đăng ký tài khoản) để yêu cầu Công ty TNHH D T hoàn trả số tiền trên. Tuy nhiên, đến ngày 08/09/2017, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Chợ Lớn đã trả lời cho Ngân hàng TNHH MTV ANZ Việt Nam với nội dung như sau:
“Techcombank không liên hệ được với khách hàng. Công ty Côn trùng D T khách hàng đã tiến hành rút tiền mặt vào ngày 25/08/2017 số tiền 55.000.000 đồng.”
Phía Công ty TNHH GH cũng đã yêu cầu Ngân hàng Techcombank – Chi nhánh Chợ Lớn làm việc với Công ty TNHH D T để yêu cầu Công ty TNHH D T hoàn trả lại số tiền trên nhưng vẫn không đạt được kết quả.
Nay Công ty TNHH GH yêu cầu Công ty TNHH D T phải trả lại số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng) do phía Công ty TNHH D T đã cố tình chiếm giữ trái phép. Yêu cầu phía Công ty TNHH D T trả toàn bộ số tiền trên một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Tại phiên tòa hôm nay, bà Lê Thị Bích P là người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH GH có đơn yêu cầu vắng mặt.
* Bị đơn, Công ty TNHH D T, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn đều vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự tố tụng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Thẩm phán có vi phạm tố tụng về việc chậm tống đạt Thông báo thụ lý cho bị đơn và không đảm bảo thời hạn đưa vụ án ra xét xử, đề nghị khắc phục.
- Về nội dung vụ án: Công ty TNHH GH yêu cầu Công ty TNHH D T trả lại số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng) là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên đề nghị Tòa án chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Giữa Công ty TNHH GH và Công ty TNHH D T có phát sinh tranh chấp về đòi lại tài sản nên phía Công ty TNHH GH khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ kết quả xác minh của Sở kế hoạch đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh thì Công ty TNHH D T, do bà Trần Thị Ngọc G là người đại diện theo pháp luật có đăng ký trụ sở tại địa chỉ 19/30D đường Bình Thới, Phường 11, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, hiện nay công ty chưa đăng ký giải thể .
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là Công ty TNHH D T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai về việc tham gia phiên tòa nhưng đã vắng mặt. Đồng thời, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Lê Thị Bích P có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về yêu cầu của các bên đương sự:
a) Về yêu cầu của nguyên đơn:
Công ty TNHH GH yêu cầu Công ty TNHH D T trả lại số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng). Để chứng minh cho yêu cầu của mình, phía Công ty TNHH GH đã cung cấp cho Tòa án chứng cứ như sau:
- Phiếu chuyển tiền (ngày chuyển 25/8/2017), số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng), người gửi là Công ty TNHH Một thành viên sản xuất GH, người nhận là Công ty TNHH Trừ mối côn trùng D T
- Thư xác nhận việc chuyển tiền ngày 11/9/2017 của Ngân hàng TNHH MTV ANZ Việt Nam.
Đồng thời căn cứ vào các kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam – Chi nhánh Chợ Lớn và Ngân hàng TNHH MTV ANZ Việt Nam, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để xác định vào ngày 25/8/2017, Công ty TNHH GH đã chuyển nhầm số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng) vào tài khoản của Công ty TNHH D T và Công ty TNHH D T đã rút số tiền này vào ngày 25/08/2017. Phía Công ty TNHH GH đã liên hệ với phía Ngân hàng và Công ty TNHH D T để thu hồi lại số tiền trên nhưng không có kết quả. Nay Công ty TNHH GH yêu cầu Công ty TNHH D T phải hoàn trả lại toàn bộ số tiền trên, yêu cầu trả một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
b) Về phía bị đơn:
- Theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “ Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp.
(…) Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó …”
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng đối với Công ty TNHH D T, do bà Trần Thị Ngọc G là người đại diện theo pháp luật, tuy nhiên phía Công ty TNHH D T đã không đến Tòa án để trình bày ý kiến và cũng không cung cấp cho Tòa án chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho của mình nên Hội đồng xét xử xét thấy việc buộc Công y TNHH D T phải có trách nhiệm trả lại số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng) theo yêu cầu của Công ty TNHH GH là có cơ sở, đúng quy định pháp luật.
Về án phí: Công ty TNHH D T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Sản xuất GH.
2. Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Trừ mối côn trùng D T có trách nhiệm trả lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Sản xuất GH số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng). Trả một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3. Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn Trừ mối côn trùng D T chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do việc chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.
4. Về án phí: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Trừ mối côn trùng D T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.750.000 đồng (hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Hoàn trả lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Sản xuất GH số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.375.000 đồng (một triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AG/2014/0004628 ngày 06/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án dân sự của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKS-TAND TP.HCM; - VKSND Q.11; - CCTHADS Q.11; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Vĩ Bửu |