- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Quế Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2023/HS-ST ngày 23 tháng 2 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận HK, thành phố Hà Nội về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Q.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:392/2023/HS-PT Ngày: 16/5/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Thủy.
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Bích Ngân
Bà Đặng Mạnh Cẩm Yến
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 298/2023/TLPT-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo Nguyễn Thị Q do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Q đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2023/HS-ST ngày 23 tháng 2 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận HK, thành phố Hà Nội.
1. Bị cáo có kháng cáo, NGUYỄN THỊ Q, sinh ngày 27/01/1990; giới tính: nữ; ĐKHKTT và trú tại: số 11 ngách 102/14 PĐL, phường LT, quận DD, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn Q và con bà Cao Thị L; Có chồng: Phạm Triều D và có hai con ( con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018). Tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang 23 giờ 50 phút ngày 23/9/2022, tạm giữ từ ngày 24/9/2022 đến ngày 29/11/2022. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo: Anh Phạm Triều D, sinh năm 1992; HKTT và trú tại: số 11 ngách 102/14 PĐL, phường LT, quận DD, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 23/9/2022, tổ công tác công an phường HG phát hiện Nguyễn Thị Q đang dừng xe máy Honda màu trắng, BKS: 30K3-abcd tại trước số 18 HQ, phường HG, quận HK, thành phố Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Q đã tự nguyện lấy từ trong ống tay áo bên trái của mình 01 vỏ cao su bọc 01 túi nilông màu đen bên trong có: 01 gói nilông kích thước khoảng 2x4cm chứa 05 (năm) viên nén màu hồng, 01 gói nilông kích thước 2x3cm bên trong chứa tinh thể màu trắng và khai nhận đó là ma túy kẹo (thuốc lắc) và Ketamin đang mang đi giao bán cho khách để kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa Nguyễn Thị Q về trụ sở Công an phường để giải quyết. Ngoài ra còn thu giữ của Q 01 điện thoại di động SAMSUNG Galaxy A22, màu xanh, sử dụng SIM số: 0385658258, 0349831644 (đã qua sử dụng); 01 xe máy Honda màu trắng, BKS: 30K3-abcd (đã qua sử dụng). Xét nghiệm Nguyễn Thị Q âm tính với ma túy.
Tiến hành khám xét nơi ở Nguyễn Thị Q tại số 11 ngách 102/14 PĐL, phường LT, quận DD, thành phố Hà Nội không phát hiện và thu giữ được gì liên quan đến ma túy.
Tiến hành kiểm tra điện thoại của Nguyễn Thị Q phát hiện nội dung tin nhắn, cuộc gọi đến và đi với các số thuê bao 034998xxxx, 0357611343 có liên quan đến hành vi phạm tội của Q.
Tại bản kết luận giám định số 6791/KLGĐ-PC09 ngày 01/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilông là ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,417 gam; 05 viên nén màu hồng bên trong 01 gói nilông là ma túy loại MDMA, khối lượng 2,510 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Q khai: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 23/9/2022, Q đang ở nhà thì nhận được điện thoại qua mạng xã hội Zalo của một người bạn quen biết xã hội tên là PhA (không biết họ tên đầy đủ, địa chỉ, sử dụng số điện thoại 034998xxxx) hẹn đến ngã ba NVX - LTT, quận TX, thành phố Hà Nội nhận ma túy để mang đến 18 HQ, phường HG, quận HK, thành phố Hà Nội giao bán cho một người phụ nữ không quen biết dùng số điện thoại 0377562694, thu về 5.500.000 đồng (năm triệu, năm trăm nghìn đồng) và được trả công 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng). Q đồng ý và điều khiển xe máy Honda màu trắng, BKS: 30K3- abcd đến nơi hẹn để gặp PhA, nhận gói ma túy 01 vỏ cao su bên trong là 01 túi nilông màu đen có: 01 gói nilông chứa 05 viên may túy “thuốc lắc” màu hồng và 01 gói nilông chứa ma túy Ketamine. Q cho số ma túy trên vào ống tay áo bên trái rồi điều khiển xe máy đến 18 HQ. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, một người phụ nữ dùng số điện thoại 0357611343 gọi cho Q hỏi đã mang "đồ" đến 18 HQ chưa, lúc này Q đang đứng trước cửa số 18 HQ thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ như đã nêu trên. Đối với xe máy Honda màu trắng, BKS: 30K3-abcd là của anh Phạm Triều D (chồng của Q) cho mượn để làm phương tiện đi lại, anh D không biết việc Q sử dụng vào việc mua bán ma túy. Ngoài ra, Q khai về nội dung tin nhắn của đối tượng PhA ngày 08/9/2022: “0967365540 nửa c, 1v ngách 56 ngõ 105 DKT” là PhA bảo Q đi giao nửa chỉ ke và 01 viên ma túy tổng hợp cho khách sử dụng số điện thoại 0967365540 tại địa chỉ ngách 56 ngõ 105 DKT, tuy nhiên do bận việc gia đình nên Q đã không thực hiện việc trên.
Như vậy, Nguyễn Thị Q cất giấu 02 chất ma túy nhằm mục đích bán trái phép được quy định tại các điểm khác nhau quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự nên được quy đổi theo Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018, của Chính phủ như sau: 1,417 gam Ketamine (so với khối lượng tối thiểu chất ma túy quy định tại điểm n khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự) là 7,085 % + 2,510 gam MDMA (so với khối lượng tối thiểu chất ma túy quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự) là 50,20% = 57,285%, nên hành vi phạm tội của Nguyễn Thị Q được quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, BKS: 30K-abcd, đăng ký xe máy mang tên Nguyễn Thị HY (trú tại: P1403A M3M4/91A NCT, phường LH, quận BĐ, thành phố Hà Nội); xác minh không có trong dữ liệu xe máy tang vật. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an phường LH xác định tại địa chỉ số P1403A M3M4/91A NCT, phường LH, quận BĐ, thành phố Hà Nội không có ai là Nguyễn Thị HY đăng ký thường trú. Tại Cơ quan điều tra, anh Phạm Triều D khai: Anh D mua chiếc xe trên của chị Nguyễn Thị HY vào năm 2019. Thời điểm mua có giấy tờ mua bán nhưng đến nay bị thất lạc. Đầu năm 2022, anh D cho vợ là Nguyễn Thị Q mượn xe để làm phương tiện đi lại. Anh D không biết việc Q sử dụng chiếc xe trên để đi bán ma túy.
Về người đàn ông tên PhA sử dụng số thuê bao 034998xxxx là người đã đưa ma túy cho Q, Q khai không rõ tên tuổi địa chỉ. Cơ quan điều tra đã dẫn giải Q đi chỉ đối tượng PhA nhưng không xác định được. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ điện tín và xác minh nhân thân chủ số thuê bao 034998xxxx là anh Bùi Đình Ch. Tại Cơ quan điều tra, anh Ch khai: Anh mua số thuê bao trên vào năm 2014, đăng ký chính chủ số thuê bao trên. Đến năm 2018, anh Ch bán số thuê bao trên và không sử dụng nữa. Anh không biết ai đang sử dụng số thuê bao này, không quen biết ai tên là PhA và Nguyễn Thị Q. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ, xử lý. Về đối tượng mua ma túy ngày 08/9/2022 sử dụng số thuê bao 0967365540, Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ điện tín và xác minh nhân thân chủ số thuê bao 0967365540 là chị Trần Linh Đ. Công an xã VAD cho biết tại địa chỉ trên không có Trần Linh Đ. Vì vậy, Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ.
Về đối tượng nữ giới mua ma túy sử dụng số thuê bao 0357611343 và 0377562694, Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ điện tín và xác minh nhân thân chủ số thuê bao 0357611343 là chị Hồ Thị Hương L. Tại Cơ quan điều tra, chị L khai: Chị L không sử dụng thông tin cá nhân của mình để đăng ký số thuê bao trên và không sử dụng số điện thoại trên. Chị L không biết ai đã sử dụng số thuê bao trên hoặc sử dụng thông tin cá nhân của chị L để đăng ký. Chị L không quen biết ai tên là PhA và Nguyễn Thị Q. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ điện tín số thuê bao 0377562694 xác định chủ thuê bao mang tên Công ty Cổ phần VM. Công an phường PL cho biết tại địa chỉ trên không có Công ty Cổ phần VM hoạt động cũng như gắn biển hiệu công ty nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ.
Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 04/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận HK truy tố Nguyễn Thị Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2023/HS-ST ngày 23 tháng 2 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận HK, thành phố Hà Nội đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, Điểm s, n khoản 1 Điều 51, khoản 2 điều 51, Điều 38
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Q 40 (bốn mươi) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. Bị cáo được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 24/9/2022 đến ngày 29/11/2022.
Ngoài ra bản án hình sự sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 03/3/2023 bị cáo Nguyễn Thị Q kháng cáo xin được giảm hình phạt.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Hà Nội đề nghị HĐXX: Sau khi đánh giá tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 351, Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 34/2023/HS-ST ngày 23 tháng 2 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận HK, thành phố Hà Nội phạt bị cáo Q 40 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo là đúng về chủ thể kháng cáo và còn trong thời hạn nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung:
Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai người làm chứng có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 23/9/2022, Nguyễn Thị Q đã có hành vi bán trái phép 02 chất ma túy gồm: 1,417 gam ma túy loại Ketamine và 2,510 gam ma túy loại MDMA thì bị phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật tại trước số nhà 18 HQ, phường HG, quận HK, thành phố Hà Nội.
Nguyễn Thị Q cất giấu 02 chất ma túy nhằm mục đích bán trái phép được quy định tại các điểm khác nhau quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự nên được quy đổi theo Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ như sau: 1,417 gam Ketamine (so với khối lượng tối thiểu chất ma túy quy định tại điểm n khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự) là 7,085 % + 2,510 gam MDMA (so với khối lượng tối thiểu chất ma túy quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự) là 50,20% = 57,285%.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự như Tòa án nhân dân quận HK xét xử là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]Xét kháng cáo bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy xâm phạm trật tự an toàn xã hội là nguyên nhân gây tội phạm khác. Bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng do coi thường pháp luật, tham lam tư lợi nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội.
Tại cấp sơ thẩm đã đánh giá quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, khi phạm tội bị cáo có thai, bị cáo có bố đẻ được tặng Huân chương kháng Ch và bị nhiễm chất độc hóa học cấp sơ thẩm đã áp dụng Điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng pháp luật.
Tại cấp phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối lối về hành vi đã phạm tội. Hiện bị cáo đang mang thai tuần thứ 33 ( đã nộp cho Tòa án kết quả khám bệnh) nên giảm một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước đối với bị cáo.
Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Q. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2023/HS-ST ngày 23 tháng 2 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận HK, thành phố Hà Nội, giảm hình phạt cho bị cáo.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo .
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số: 34/2023/HS-ST ngày 23 tháng 2 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận HK, thành phố Hà Nội về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Q.
2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; Điểm s, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Phạt bị cáo Nguyễn Thị Q 34 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 24/9/2022 đến ngày 29/11/2022.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND TP. Hà Nội; - Công an TP. Hà Nội; - Chi cục T.H.A.DS Q. HK; -TAND Q. HK; - Sở Tư pháp TP Hà Nội; - Lưu, lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VŨ THỊ THU THỦY |