vanban.org

Bản án 3910/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyen Tuấn K - Lý Hồng H"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA!ÁN!NHÂNDÂN!
THÀNH!PHỐ!THỦ!ĐỨC!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 3910/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26-9-2023
V/v: Ly hôn.

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!THỦ!ĐỨC!-!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! !

!

- Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:""

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Lương Minh Hiếu

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"1. Ông Phạm Văn Tâm

2. Ông Phạm Văn Khuyến

-"Thư"ký"phiên"tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

-"Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"thành"phố"Thủ"Đức,"Thành"phố"Hồ" Chí"Minh"tham"gia"phiên"tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại phòng xử B - Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý: 1172/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5783/2023/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên"đơn: Ông Nguyễn Tuấn K, sinh năm: 1983

Địa chỉ: 44 ấp P, xã P, huyện C, tỉnh B

Bị"đơn: Bà Lý Hồng H, sinh năm 1988

Địa chỉ: 1278/1 N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

(Ông Nguyễn Tuấn K có đơn xin vắng mặt; bà Lý Hồng H vắng mặt).

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Trong đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Tuấn K trình bày: Ông Nguyễn Tuấn K và bà Lý Hồng H tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh B cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 93, ngày 21/12/2006.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng ông K thường phát sinh mâu thuẫn do cả hai luôn bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng đã ly thân hơn 02 năm nay. Nay ông K xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể tiếp tục nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ông K được ly hôn với bà H . Về con chung: Ông K giao 02 con chung tên Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 14/3/2009 và Nguyễn Ngọc Như Q, sinh ngày 18/4/2014 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông K cấp dưỡng nuôi mỗi người con chung 1.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung và nợ chung: không có.

- Bị đơn bà Lý Hồng H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của ông K. Tại phiên tòa: Nguyên đơn ông Nguyễn Tuấn K có đơn xin xét xử vắng mặt do bận công việc và ở xa, ông K vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với bà H, giao 02 con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông K cấp dưỡng nuôi mỗi người con chung 1.000.000 đồng/tháng; về tài sản chung và nợ chung: không có. Bị đơn bà Lý Hồng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Xác định đúng người tham gia tố tụng; Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể, về quan hệ hôn nhân: cho ông Nguyễn Tuấn K được ly hôn với bà Lý Hồng H; Về con chung: giao 02 con chung tên Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 14/3/2009 và Nguyễn Ngọc Như Q, sinh ngày 18/4/2014 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông K cấp dưỡng nuôi mỗi người con chung 1.000.000 đồng/tháng; Về tài sản chung và nợ chung: không có. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông K phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông K nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà H, bà H hiện cư trú tại phường L, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Lý Hồng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H.

[3] Xét yêu cầu của đương sự:

Ông Kvà bà H tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh B cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 93, ngày 21/12/2006 nên quan hệ hôn nhân giữa ông Kvà bà H là hợp pháp.

Theo lời khai của ông K trong quá trình chung sống, vợ chồng ông Kthường phát sinh mâu thuẫn do cả hai luôn bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không hợp nhau, vợ chồng đã ly thân hơn 02 năm nay. Nay ông K xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể tiếp tục nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà H.

Bà Lý Hồng H không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của ông K.

Theo kết quả xác minh của Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố Thủ Đức, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Thủ Đức, Ủy ban nhân dân phường Long Trường, thành phố Thủ Đức đều trả lời không nắm rõ nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa ông K và bà H.

Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ" chồng" có" nghĩa" vụ" thương" yêu," chung" thủy," tôn" trọng," quan" tâm," chăm" sóc," giúp" đỡ" nhau;" cùng" nhau"chia"sẽ,"thực"hiện"các"công"việc"trong"gia"đình….Vợ"chồng"có"nghĩa"vụ" sống"chung"với"nhau….”

Xét quá trình sống chung giữa đôi bên thực tế có xảy ra mâu thuẫn, hiện vợ chồng ông Kvà bà H không còn tình cảm với nhau, không còn sự quan tâm, chăm sóc nhau, không sống chung với nhau là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc ông Kyêu cầu được ly hôn với bà H là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Căn cứ theo Giấy khai sinh số 62 ngày 13/5/2009 và số 68 ngày 05/5/2014 do Ủy ban nhân dân phường L, Quận 9 nay là thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì ông K và bà H có 02 con chung tên Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 14/3/2009 và Nguyễn Ngọc Như Q, sinh ngày 18/4/2014.

Ông K giao 02 con chung Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 14/3/2009 và Nguyễn Ngọc Như Q, sinh ngày 18/4/2014 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng vì hai con chung đang ở với bà H; ông K cấp dưỡng nuôi mỗi người con chung 1.000.000 đồng/tháng.

Xét, theo lời khai của ông Kthì bà H bỏ nhà đi từ đầu năm 2021, khi đi dẫn theo hai con chung và hiện nay hai con chung đang sống với bà H và do bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Tòa án có lập biên bản yêu cầu ông Kdẫn 02 cháu Nguyễn Tuấn H và Nguyễn Ngọc Như Q đến Tòa án để lấy ý kiến là hai cháu muốn ở với ba hay mẹ nhưng ông K không thực hiện được do bà H không cho ông K dẫn con đi. Theo kết quả trả lời xác minh của Ủy ban nhân dân phường L, thành phố Thủ Đức có nội dung: Hiện 02 cháu Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 14/3/2009 và Nguyễn Ngọc Như Q, sinh ngày 18/4/2014 đang sống với bà H và do bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông K, giao 02 con chung tên Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 14/3/2009 và Nguyễn Ngọc Như Q, sinh ngày 18/4/2014 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận ông K tự nguyện cấp dưỡng nuôi mỗi người con chung 1.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung và nợ chung: Ông K xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [4] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Tuấn K phải chịu án phí theo quy định. Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT!ĐỊNH:!

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Căn cứ vào các Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tuấn K được ly hôn với bà Lý Hồng H.

- Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Tuấn H, sinh ngày 14/3/2009 và Nguyễn Ngọc Như Q, sinh ngày 18/4/2014 cho bà Lý Hồng H trực tiếp nuôi dưỡng; ông Nguyễn Tuấn K tự nguyện cấp dưỡng nuôi mỗi người con chung 1.000.000 đồng/tháng; việc cấp dưỡng do hai bên giao nhận trực tiếp với nhau. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung.

Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, hoặc hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung: không có.

- Nợ chung: không có.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Tuấn K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ông K đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0003378 ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Tuấn K còn phải nộp thêm 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

3. Giấy chứng nhận kết hôn số 93, ngày 21/12/2006 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh B cấp cho Nguyễn Tuấn K và bà Lý Hồng H không còn giá trị pháp lý.

4. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi"nhận:"

!

Cỡ chữ