- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H ly hôn anh T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Trần Thị H và anh Trần Quang T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 391/2023/HNGĐ-ST Ngày: 06-9-2023 V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa chị H và anh T. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lương Việt Bằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Ngô Kim Thành
2. Bà Vương Thị Minh Tân
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Soan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định.
Ngày 06-9-2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 332/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết đưa vụ án ra xét xử số 68/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22-8-2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28-8-2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1987; số CCCD: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: 4/362 đường L, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.
- Bị đơn: Anh Trần Quang T, sinh năm 1985; số CCCD: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: 4/362 đường L, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa: Chị H và anh T có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình tham gia tố tụng, tại phiên tòa nguyên đơn là chị Trần Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Quang T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N năm 2011. Trong quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên không có sự hòa hợp về lối sống, bất đồng về tính cách, anh T vay nợ nhiều dẫn đến kinh tế khó khăn, chị đã khuyên nhủ nhưng anh T không thay đổi. Chị nhận thấy không còn tin tưởng anh T, không hàn gắn đoàn tụ được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Trần Quang T.
- Về con chung: Chị Trần Thị H xác nhận vợ chồng có 01 con chung là Trần Mạnh Q, sinh ngày 09-6-2012. Chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung. Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản và nợ chung của vợ chồng: Chị Trần Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Trần Quang T trình bầy: Anh xác nhận việc kết hôn và con chung như chị H trình bầy là đúng. Nguyên nhân vợ chồng có mâu thuẫn là do anh làm ăn thua lỗ nên phải vay nợ, anh mong muốn vợ chồng hòa giải để nuôi dạy con chung, còn nếu chị H cương quyết xin ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Nếu ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị H nuôi dưỡng. Về tài sản và nợ chung của vợ chồng, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Cháu Trần Mạnh Q có lời khai trình bầy nguyện vọng được ở với chị H.
Tại đơn trình bầy của chị H, đại diện chính quyền địa phương đã xác nhận về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng, nuôi con chung của chị H và anh T như sau: Chị H và anh T sinh sống tại 4/362 đường L, phường T, thành phố N. Quá trình chung sống, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, va chạm. Chị H và anh T có con chung là Trần Mạnh Q, sinh năm 2012. Nay chị H có đơn ly hôn, nuôi con với anh T thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Trần Thị H và anh Trần Quang T đã được Tòa án đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của đương sự theo đúng quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Trần Quang T tự do tìm hiểu, kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên nảy sinh những bất đồng trong cuộc sống, khác biệt nhau về lối sống và tính cách, có khó khăn về kinh tế nên mâu thuẫn ngày càng căng thẳng. Tòa án đã tiến hành hòa giải giữa hai bên đương sự nhưng chị H vẫn cương quyết xin ly hôn anh T. Điều đó chứng tỏ hôn nhân hai bên đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ xử ly hôn giữa chị Trần Thị H và anh Trần Quang T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Chị Trần Thị H có đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung, anh Trần Quang T nhất trí giao con chung cho chị H nuôi dưỡng. Cháu Trần Mạnh Q có lời khai trình bầy nguyện vọng được ở với chị H. Vì vậy, để ổn định cuộc sống và đảm bảo lợi ích của con chung, căn cứ quy định tại các Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung là Trần Mạnh Q, sinh ngày 09-6-2012 cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Trần Thị H và anh Trần Quang T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
[4] Về tài sản, nợ chung của vợ chồng: Chị Trần Thị H và anh Trần Quang T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị H là nguyên đơn nên phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Trần Thị H và anh Trần Quang T.
2. Về nuôi con chung: Giao cho chị Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Mạnh Q, sinh ngày 09-6-2012. Chị Trần Thị H và anh Trần Quang T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Chị Trần Thị H và anh Trần Quang T có quyền, nghĩa vụ đối với con chưa thành niên theo quy định của pháp luật. Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con. Người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người trực tiếp nuôi con.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị H phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số 0000310 ngày 09-8-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N, tỉnh Nam Định.
4. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị H và anh Trần Quang T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự chị Trần Thị H và anh Trần Quang T có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND thành phố N; - Chi cục THADS thành phố N; - UBND phường T; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | Lương Việt Bằng |