- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà — án dân sự — "Mai Tất T"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T, bà N đối với bị đơn Công ty cổ phần K về việc yêu cầu chấm dứt Hợp đồng hợp tác cho thuê căn hộ số A2.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 118 Bộ luật Dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 1 - KHÁNH HOÀ
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số: 39/2026/DS-ST Ngày: 17/4/2026 V/v “Tranh chấp hợp đồng
mua bán căn hộ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Cát Hoàng Trân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Bời
Bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Lựu - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 30/2024/TLST-DS ngày 09/01/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2026/QĐXXST-DS ngày 10/3/2026; Quyết định hoãn phiên tòa ngày 30/3/2026 giữa các đương sự sau:
- Nguyên đơn: Ông Mai Tất T và bà Trần Kim N
Địa chỉ: C N, TDP G, phường V, tỉnh Phú Thọ
+ Đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn Đ
Địa chỉ: Thôn D, phường T, thành phố Hải Phòng.
Địa chỉ liên hệ: Tầng G, số nhà G đường T, phường Y, Thành phố Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt
- Bị đơn: Công ty cổ phần K
Địa chỉ: đường N, Khu đô thị V, phường V, thành phố N (nay là phường B), tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh T1
Nơi thường trú: Tổ 13, Y, phường H, thành phố Hà Nội.Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng thương mại cổ phần C1
Địa chỉ trụ sở: A Phố T, phường C, quận H (nay là phường C), Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Mai Tất T, Trần Kim N là ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Ngày 10/10/2018, ông Mai Tất T và bà Trần Kim N có ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ số A2.12B.22/2018/HĐMB/LALUNA và các Phụ lục kèm theo với Công ty Cổ phần K (sau đây gọi là “Chủ đầu tư”) với nội dung cụ thể như sau: Hai bên thoả thuận mua bán căn hộ là bất động sản hình thành trong tương lai là căn hộ số 22, tầng 12B, toà A2 và có diện tích sử dụng (theo phụ lục 02) là 32,94m2 với giá 2.085.538.427 đồng. Căn hộ thuộc dự án bất động sản du lịch và thương mại có tên gọi là: “Trung tâm B” địa chỉ tại: Khu đô thị V, phường V, thành phố N (nay là phường B), tỉnh Khánh Hòa. Bên cạnh đó, Chủ đầu tư cam kết sau khi khách hàng thanh toán 95% Giá bán căn hộ (bao gồm cả thuế Giá trị gia tăng và kinh phí bảo trì) thì sẽ đủ điều kiện hợp tác và tham gia chương trình cho thuê với nhiều lợi ích ưu đãi của Chủ đầu tư. Do đó, ngay sau khi ký Hợp đồng mua bán, nguyên đơn đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Chủ đầu tư tổng số tiền tương ứng với từng hợp đồng mua bán căn hộ tương ứng với 97% (đã bao gồm 2% kinh phí bảo trì) giá bán căn hộ. Cụ thể: 1.983.124.708 đồng
Ngày 20/11/2018, giữa ông T, bà N và C đầu tư ký kết Hợp đồng hợp tác cho thuê căn hộ số A2.12B.22/2018/HĐHT/LALUNA và Bản cam kết về việc nhận lợi nhuận từ thu nhập cam kết. Lợi nhuận cam kết được tính theo Phụ lục 02 của Hợp đồng hợp tác cho thuê căn hộ và đảm bảo không thấp hơn 9%/năm/giá bán căn hộ tính bằng Việt Nam Đồng hoặc tương đương 6%/năm/giá bán căn hộ tính bằng Đ Mỹ. Tính đến nay, Chủ đầu tư đã thanh toán cho ông T, bà N số tiền lợi nhuận cam kết là 242.732.822 đồng Căn cứ Điều 8 của Hợp đồng mua bán căn hộ, các bên thỏa thuận thời gian dự kiến bàn giao căn hộ vào quý IV năm 2019, việc bàn giao căn hộ có thể sớm hơn hoặc muộn hơn so với thời gian quy định nêu trên, nhưng không được chậm quá 180 ngày, kể từ ngày bàn giao dự kiến. Tuy nhiên; đến nay đã quá thời hạn bàn giao căn hộ nhưng Chủ đầu tư chưa thực hiện nghĩa vụ bàn giao căn hộ theo cam kết, đồng thời, C đầu tư không thực hiện thanh toán đầy đủ lợi nhuận cam kết và các khoản tài chính khác theo đúng thỏa thuận tại Hợp đồng hợp tác cho thuê căn hộ. Vì vậy, ông T, bà N đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
1.Chấm
dứt
Hợp
đồng
mua
bán
căn
hộ
số A2.12B.22/2018/HĐMB/LALUNA ký ngày 10/10/2028 và các Phụ lục hợp đồng kèm theo Hợp đồng mua bán giữa ông Mai Tất T, bà Trần Kim N và Công ty Cổ phần K;
2.Chấm dứt Hợp đồng hợp tác cho thuê căn hộ số A2.12B.22/2018/HĐHT/LALUNA ký ngày 20/11/2018 và các Phụ lục hợp đồng 01, 02, 03, 04, 05, 06 kèm theo Hợp đồng hợp tác cho thuê căn hộ giữa ông T, bà N và Công ty Cổ phần K;
3. Yêu cầu Công ty Cổ phần K hoàn trả lại cho ông T, bà N toàn bộ số tiền mua bán căn hộ đã thanh toán là 1.983.124.708 đồng
4. Yêu cầu Công ty Cổ phần K thanh toán tiền lợi nhuận cam kết còn lại (tạm tính đến ngày 30/6/2023) là 503.064.668 đồng
5. Yêu cầu Công ty Cổ phần K thanh toán cho ông T, bà N tiền lãi phát sinh từ việc chậm thanh toán lợi nhuận cam kết (tạm tính đến ngày 05/10/2023) là 70.006.962 đồng;
6. Yêu cầu Công ty Cổ phần K thanh toán tiền lãi phát sinh từ việc chậm bàn giao căn hộ (tạm tính đến 05/10/2023) là 1.983.124.708 đồng x 0.05% x 1284 (số ngày chậm bàn giao) = 1.273.166.063 đồng;
Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, ngày 13/3/2026 người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Đ có đơn sửa đổi, rút một phần yêu cầu khởi kiện. Cụ thể rút yêu cầu khởi kiện về việc: 1.Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng hợp tác cho thuê căn hộ số A2.12B.22/2018/HĐHT/LALUNA ký ngày 20/11/2018 và các Phụ lục hợp đồng 01, 02, 03, 04, 05, 06 kèm theo Hợp đồng hợp tác cho thuê căn hộ giữa ông T, bà N và Công ty Cổ phần K 2. Yêu cầu Công ty Cổ phần K thanh toán tiền lợi nhuận cam kết còn lại (tạm tính đến ngày 30/6/2023) là 503.064.668 đồng 3. Yêu cầu Công ty Cổ phần K thanh toán cho ông T, bà N tiền lãi phát sinh từ việc chậm thanh toán lợi nhuận cam kết (tạm tính đến ngày 05/10/2023) là 70.006.962 đồng; Do đó, các yêu cầu của ông Mai Tất T, bà Trần Kim N còn lại là: 1. Chấm dứt Hợp đồng mua bán căn hộ số A2.12B.22/2018/HĐMB/LALUNA ký ngày 10/10/2028 và các Phụ lục hợp đồng kèm theo Hợp đồng mua bán giữa ông Mai Tất T, bà Trần Kim N và Công ty Cổ phần K 2. Yêu cầu Công ty Cổ phần K hoàn trả lại cho ông T, bà N toàn bộ số tiền mua bán căn hộ đã thanh toán là 1.983.124.708 đồng 3. Yêu cầu Công ty Cổ phần K thanh toán tiền lãi phát sinh từ việc chậm bàn giao căn hộ tính từ ngày 30/3/2020 đến ngày 10/3/2026 là 1.983.124.708 đồng x 0.05% x 2172 (số ngày chậm bàn giao) = 2.153.673.433 đồng. Tổng cộng là 4.136.798.141 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, Toà án đã tiến hành triệu tập, cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn Công ty cổ phần K để đến Toà án làm việc nhưng bị đơn vắng mặt, không có ý kiến phản hồi nên không có lời khai tại hồ sơ vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến trình bày, không có bản luận cứ thể hiện quan điểm pháp lý về nội dung vụ án. Tuy nhiên, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cũng đã có đơn từ chối người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn. Tại văn bản số 786/CV-CNTAN-TH ngày 24/10/2025 và Văn bản số 416A/CV-CNTAN-TH ngày 26/3/2026 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng thương mại cổ phần C1 thể hiện nội dung:
Về khoản nợ và tài sản thế chấp của Công ty CP K (Công ty K) tại V: V có ký Hợp đồng tín dụng cho Công ty K vay vốn và hiện Công ty vẫn còn dư nợ xấu chưa thanh toán cho Ngân hàng. Khoản nợ này được bảo đảm thanh toán bằng các tài sản thế chấp thuộc sở hữu của Công ty K tại Dự án Trung tâm B (địa chỉ tại ô số H, khu đô thị V, phường V, TP N - nay là phường B - tỉnh Khánh Hòa), bao gồm quyền sử dụng đất, các căn hộ, công trình xây dựng hình thành trong tương lai, động sản, các quyền tài sản của Công ty K phát sinh từ các Hợp đồng mua bán căn hộ Dự án ký giữa Công ty và người mua căn hộ. V Thành A nhận thế chấp bằng tài sản là căn hộ của Chủ đầu tư Công ty K đối với những căn hộ Công ty chưa bán và đang thuộc sở hữu của Công ty. Khi Công ty bán căn hộ đang thế chấp cho người mua thì V sẽ thực hiện giải chấp căn hộ đó, do vậy sau khi Công ty ký Hợp đồng mua bán với người mua, V chỉ nhận thế chấp bằng quyền tài sản của Công ty phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ để tiếp tục bảo đảm cho khoản nợ của Công ty tại Ngân hàng. Trường hợp người mua vay vốn tại V để thanh toán tiền mua căn hộ, để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của người mua, V chỉ nhận thế chấp bằng quyền tài sản của khách hàng mua phát sinh từ Hợp đồng mua bán mà không nhận thế chấp bằng căn hộ.
Đối với căn hộ số 22, tầng A, tòa A2 ông Mai Tất T và bà Trần Kim N mua của Công ty K theo Hợp đồng mua bán số A2.12B.22/2018/HĐMB/LALUNA ngày 10/10/2018: Sau khi ông M Tất Thắng và bà Trần Kim N ký Hợp đồng mua bán số A2.12B.22/2018/HĐMB/LALUNA ngày 10/10/2018 với Công ty K để mua căn hộ số 22 tầng 12B tòa A2, ông T bà N có vay vốn tại V để thanh toán tiền mua căn hộ, tài sản thế chấp cho khoản vay là quyền tài sản của ông T bà N phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ nói trên. Tuy nhiên, đến ngày 19/11/2019 ông Mai Tất T và bà Trần Kim N đã thanh toán hết khoản nợ và đã được V giải chấp tài sản. Hiện nay giữa ông Mai Tất T và bà Trần Kim N với V không còn ràng buộc gì về nợ vay cũng như về tài sản thế chấp. V cũng không nhận thế chấp tài sản là căn hộ số 22, tầng 12B, tòa A2 hoặc quyền tài sản của Công ty K phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ số A2.12B.22/2018/HĐMB/LALUNA ký ngày 10/10/2018 giữa Công ty và ông T, bà N. Do căn hộ và quyền tài sản của bên bán và bên mua phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ số 22 tầng 12B tòa A ký ngày 10/10/2018 đều đang không thế chấp tại V, đồng thời ông T bà N cũng không còn nghĩa vụ nợ tại Ngân hàng, nên V không có ý kiến gì đối với tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ ký giữa ông T bà N và Công ty K. Đề nghị Quý Tòa giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật và đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật và việc giải quyết vụ án:
Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án, tiến hành thu thập chứng cứ đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử sơ thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ việc. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn Công ty cổ phần K đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người có tên nêu trên.
Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu hồ sơ và kiểm sát tại phiên tòa; căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 217; khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; Điều 117, Điều 118, 385, Điều 401, Điều 403, Điều 422, Điều 428, Điều 430, Điều 431 Bộ luật dân sự 2015; Điều 9, Điều 16, Điều 17, Điều 18, Điều 55 của Luật kinh doanh bất động sản 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Buộc bị đơn Công ty cổ phần K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần có mã số doanh nghiệp 4201390847, đăng ký lần đầu: ngày 28/11/2011; đăng ký thay đổi lần thứ 17 ngày 02/8/2024 thể hiện: Công ty cổ phần K có trụ sở hoạt động tại địa chỉ: đường N, Khu đô thị V, phường V, thành phố N (nay là phường B), tỉnh Khánh Hòa; người đại diện theo pháp luật: ông Đỗ Minh T1.
Ông Mai Tất T, bà Trần Kim N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về “Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ” đối với Công ty cổ phần K nên có cơ sở xác định đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Khánh Hòa theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, triệu tập, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn và người đại diện theo pháp luật của bị đơn nhưng những người này không đến Tòa án làm việc nên được coi là từ bỏ quyền lợi của mình. Căn cứ Điều 91; Điều 97 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ có đơn xin xét xử vắng mặt và đơn từ chối luật sư ghi ngày 16/01/2026 về việc từ chối luật sư Trần Văn S và luật sư Trương Khắc D tham gia tố tụng với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn; Bị đơn Công ty cổ phần K, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng thương mại cổ phần C1 vắng mặt lần thứ 2, không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân Khu vực 1
- Khánh Hòa tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên.
Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc:Tuyên bố chấm dứt Hợp đồng hợp tác cho thuê căn hộ số A2.12B.22/2018/HĐHT/LALUNA ký ngày 20/11/2018 và các Phụ lục hợp đồng 01, 02, 03, 04, 05, 06 kèm theo Hợp đồng hợp tác cho thuê căn hộ giữa ông T, bà H và Công ty Cổ phần K; Yêu cầu Công ty Cổ phần K thanh toán tiền lợi nhuận cam kết còn lại (tạm tính đến ngày 30/6/2023) là 503.064.668 đồng; Yêu cầu Công ty Cổ phần K thanh toán cho ông T, bà H tiền lãi phát sinh từ việc chậm thanh toán lợi nhuận cam kết (tạm tính đến ngày 05/10/2023) là 70.006.962 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, không trái với quy định của pháp luật, vì vậy căn cứ Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.
Về nội dung vụ án:
Đối với yêu cầu Chấm dứt Hợp đồng mua bán căn hộ số A2.12B.22/2018/HĐMB/LALUNA ký ngày 10/10/2028 và các Phụ lục hợp đồng kèm theo Hợp đồng mua bán giữa ông Mai Tất T, bà Trần Kim N và Công ty Cổ phần K.
Ngày 10/10/2018, ông Mai Tất T, bà Trần Kim N có ký kết Hợp đồng mua bán căn hộ số A2.12B.22/2018/HĐMB/LALUNA và các Phụ lục kèm theo với Công ty Cổ phần K (sau đây gọi là “Chủ đầu tư”) với nội dung cụ thể như sau: Hai bên thoả thuận mua bán căn hộ là bất động sản hình thành trong tương lai là căn hộ số 22, tầng 12B, toà A2 và có diện tích sử dụng (theo phụ lục 02) là 32,94m2 với giá 2.085.538.427 đồng. Căn hộ thuộc dự án bất động sản du lịch và thương mại có tên gọi là: “Trung tâm B”. Bên cạnh đó, Chủ đầu tư cam kết sau khi khách hàng thanh toán 95% Giá bán căn hộ (bao gồm cả thuế Giá trị gia tăng và kinh phí bảo trì) thì sẽ đủ điều kiện hợp tác và tham gia chương trình cho thuê với nhiều lợi ích ưu đãi của Chủ đầu tư. Việc hai bên giao kết hợp đồng mua bán nêu trên trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên là hợp đồng có hiệu lực pháp luật. Do đó đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên; các bên phải tôn trọng và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo như nội dung hợp đồng đã ký kết.
Do đó, ngay sau khi ký Hợp đồng mua bán, ông T bà N đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Chủ đầu tư tổng số tiền mua bán căn hộ tương ứng với 97% (đã bao gồm 2% kinh phí bảo trì) giá bán căn hộ. Cụ thể: 1.983.124.708 đồng. Ông T, bà N đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình quy định tại khoản 6.2 Điều 6 của Hợp đồng mua bán căn hộ được giao kết giữa các bên.
Căn cứ Mục 8.2 Điều 8 của Hợp đồng mua bán căn hộ, các bên thỏa thuận về thời gian bàn giao căn hộ: “… Dự kiến Bàn Giao Căn hộ cho Bên Mua: Quý IV năm 2019…Việc bàn giao Căn hộ có thể sớm hơn hoặc muộn hơn so với thời gian quy định tại khoản này, nhưng không được chậm quá 180 (một trăm tám mươi) ngày, kể từ ngày Bàn Giao Dự Kiến. Bên bán phải có văn bản thông báo cho Bên Mua biết lý do chậm bàn giao Căn Hộ”. Tại điểm d khoản 5.2 Điều 5 của Hợp đồng nêu trên quy định nghĩa vụ của bên bán: “Bàn giao căn hộ và giấy tờ pháp lý có liên quan đến Căn hộ cho Bên Mua theo đúng thời hạn thỏa thuận trong Hợp đồng này”. Tuy nhiên, đã quá thời hạn nêu trên nhưng Công ty K vẫn chưa thực hiện việc bàn giao căn hộ mặc dù ông T, bà N đã nhiều lần gửi thông báo, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ nhưng không có phản hồi. Mặc khác, Công ty K cũng không có bất kỳ văn bản thông báo nào cho bên mua biết lý do chậm bàn giao căn hộ hoặc gửi thông báo về việc đề xuất về thời gian bàn giao căn hộ trong vòng 14 ngày cho ông bà kể từ ngày kết thúc thời hạn 180 ngày như theo thỏa thuận tại điểm b khoản 12.2 Điều 12 của Hợp đồng.
Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/3/2025, tại Tòa nhà A2 Dự án Trung tâm B, khu đô thị V, phường V thành phố N (nay là phường B), tỉnh Khánh Hòa thể hiện: Hiện trạng tài sản đang tranh chấp chưa hoàn thiện, quan sát từ bên ngoài Tòa nhà A2 dự án trung tâm B có 04 mặt được bao rào bằng tole, kết cấu trụ bêtông cốt thép, tường gạch, sàn bêtông cốt thép, cửa sổ khung nhôm kính. Hiện tại, dự án đang dừng thi công xây dựng, Hội đồng xem xét thẩm định không vào được bên trong hai căn hộ đang tranh chấp nên không biết được căn hộ đang thi công đến giai đoạn nào.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tại thời điểm ký kết hợp đồng các bên có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự, tham gia giao dịch tự nguyện, các bên đã hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định Điều 5, Điều 6 của Hợp đồng. Vì Công ty K đã không thực hiện đúng theo thỏa thuận, vi phạm thời hạn bàn giao căn hộ, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T và bà N nên ông T và bà N khởi kiện yêu cầu chấm dứt Hợp đồng mua bán căn hộ số A2.12B.22/2018/HĐMB/LALUNA ký ngày 10/10/2028 và các Phụ lục hợp đồng kèm theo Hợp đồng mua bán giữa ông Mai Tất T, bà Trần Kim N và Công ty Cổ phần K là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 422 của Bộ luật dân sự nên có căn cứ để chấp nhận.
Đối với yêu cầu Công ty Cổ phần K hoàn trả lại cho ông T, bà N toàn bộ số tiền mua bán căn hộ đã thanh toán là 1.983.124.708 đồng và tiền lãi phát sinh do chậm bàn giao căn hộ.
Căn cứ tại mục b khoản 12.2 Điều 12 của Hợp đồng mua bán căn hộ quy định: “Trong trường hợp Bên Mua quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng này theo văn bản thông báo gửi cho bên bán trong vòng 14 (mười bốn) ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn 180 (một trăm tám mươi) ngày nêu trên, thì Bên Bán phải hoàn trả toàn bộ số tiền mà Bên Mua đã thanh toán cho Tổng G Bán Căn Hộ và tiền lãi chậm thanh toán là 0,05%/ngày x số ngày chậm bàn giao…”,
Do Công ty cổ phần K vi phạm nghĩa vụ bàn giao căn hộ theo quy định tại Điều 12 của Hợp đồng mua bán căn hộ nên Hợp đồng bị chấm dứt theo khoản 2 Điều 422 của Bộ luật dân sự, các bên phải có nghĩa vụ thanh toán phần hợp đồng đã được thực hiện. Xét ông T và bà N đã thanh toán cho Công ty K tổng số tiền mua là 1.983.124.708 đồng tương ứng với 97% (đã bao gồm 2% kinh phí bảo trì) giá bán căn hộ nên Công ty cổ phần K phải hoàn trả lại cho ông T, bà N toàn bộ số tiền mà ông bà đã thanh toán nêu trên.
Đối với yêu cầu khoản tiền lãi phát sinh từ việc chậm bàn giao căn hộ: Tại Hợp đồng mua bán căn hộ, các bên thỏa thuận trường hợp Công ty K chậm bàn giao căn hộ thì phải trả cho ông T, bà N tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất do chậm thanh toán là 0.05%/ngày, tương đương: 365 ngày x 0,05%/ngày = 18,25%/năm. Thời gian tình từ ngày 30/3/2020 đến ngày 10/3/2026. Cụ thể: 1.983.124.708 đồng x 0.05% x 2172 (số ngày chậm bàn giao) = 2.153.673.433 đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 16 Luật Kinh doanh bất động sản 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với Ngân hàng TMCP C1, quá trình giải quyết vụ án đã có văn bản trình bày: Do căn hộ và quyền về tài sản của bên bán và bên mua phát sinh từ Hợp đồng mua bán căn hộ số 22, tầng 12B, tòa A ký ngày 10/10/2018 đều đang không thế chấp tại Ngân hàng nên Ngân hàng không có ý kiến gì đối với tranh chấp giữa ông T và bà N với Công ty cổ phần K. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về chi phí tố tụng: Đối với số tiền 2.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ mà nguyên đơn đã nộp: Do yêu cầu khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn Công ty cổ phần K phải trả lại cho ông Mai Tất T, bà Trần Kim N số tiền 2.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Về án phí:
- Bị đơn Công ty cổ phần K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho ông T, bà N là 4.136.798.141 đồng. Cụ thể là 112.137.000 đồng
- Ông Mai Tất T, bà Trần Kim N thuộc trường hợp miễn nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 217; khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228; Điều 244; Điều 264, Điều 266, Điều 267, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 117, Điều 118, Điều 385, Điều 401, Điều 403, Điều 422, Điều 428, Điều 430, Điều 431 Bộ luật dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 9, Điều 16, Điều 17, Điều 18, Điều 55 của Luật kinh doanh bất động sản 2014;
- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T, bà N đối với bị đơn Công ty cổ phần K về việc yêu cầu chấm dứt Hợp đồng hợp tác cho thuê căn hộ số A2.12B.22/2018/HĐHT/LALUNA ký ngày 20/11/2018 và các Phụ lục hợp đồng 01, 02, 03, 04, 05, 06 kèm theo Hợp đồng hợp tác cho thuê căn hộ giữa ông T, bà N và Công ty Cổ phần K.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T, bà N đối với bị đơn Công ty cổ phần K về việc yêu cầu Công ty Cổ phần K thanh toán tiền lợi nhuận cam kết còn lại (tạm tính đến ngày 30/6/2023) là 503.064.668 đồng
3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T, bà N đối với bị đơn Công ty cổ phần K về việc yêu cầu Công ty Cổ phần K thanh toán cho ông T, bà N tiền lãi phát sinh từ việc chậm thanh toán lợi nhuận cam kết (tạm tính đến ngày 05/10/2023) là 70.006.962 đồng;
4. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Tất T, bà Trần Kim N về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ” đối với bị đơn Công ty cổ phần K.
4.1.Chấm
dứt
Hợp
đồng
mua
bán
căn
hộ
số A2.12B.22/2018/HĐMB/LALUN ký ngày 10/10/2018 và các phụ lục hợp đồng kèm theo Hợp đồng mua bán giữa ông Mai Tất T, bà Trần Kim N và Công ty Cổ phần K. 4.2. Buộc bị đơn Công ty Cổ phần K phải thanh toán cho ông Mai Tất T, bà Trần Kim N số tiền là 4.136.798.141 đồng (Bốn tỷ một trăm ba mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi tám nghìn một trăm bốn mươi mốt đồng).
5. Về chi phí tố tụng: Buộc Công ty Cổ phần K phải hoàn trả lại cho ông Mai Tất T, bà Trần Kim N số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
6. Về án phí: Buộc Công ty Cổ phần K phải chịu 112.137.000 đồng (Một trăm mười hai triệu một trăm ba mươi bảy nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn thuộc trường hợp miễn nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Quy định chung: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự 7. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản được niêm yết theo quy định pháp luật để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:
TM-HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Khánh Hòa
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Khu vực 1 - Khánh Hòa;
- Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn. Nguyễn Cát Hoàng Trân
TM-HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND Khu vực 1 - Khánh Hòa; - Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | Nguyễn Thị Thu Trang |