vanban.org

Bản án 39/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2026/HSST
Ngày 05-02-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Thị Minh Thể

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Ngọc Thương

Ông Nguyễn Văn Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Việt Chinh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2026/HSST ngày 13 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN B, sinh ngày 18/10/1995 tại Tp. Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: phường V, Thành phố H; Nơi ở hiện tại: phường V, Thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Đặng Thị Q.

Tiền án: Ngày 26/05/2018, Tòa án nhân dân Tp. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu (nay là Tòà án nhân dân Khu vực 11, Tp. Hồ Chí Minh) tuyên phạt 1 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 108/HSST. Đã chấp hành xong hình phạt tù, đóng án phí hình sự nhưng chưa thực hiện án phí dân sự và bồi thường thiệt hại.

Tiền sự: Ngày 19/12/2024, Tòa án nhân dân Tp. Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 11, Tp. Hồ Chí Minh) ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện số 6, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Quyết định số 186/2024/QĐ-TA.

Nhân thân: Ngày 20/5/2022, Tòa án nhân dân Tp. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 11, Tp. Hồ Chí Minh) tuyên phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 132/HSST. Đã chấp hành xong các quyết định khác của Bản án và chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/01/2023.

Bị bắt ngày 21 tháng 10 năm 2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Phước Thắng, Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố Hồ Chí Minh (bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 26/8/2025, Công an phường Vũng Tàu nhận được tin báo tại khu vực bãi đất trống núi Lớn, khóm Bình Sơn, đường Trần Xuân Độ, phường Vũng Tàu, Tp. Hồ Chí Minh có đối tượng biểu hiện nghi vấn “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Qua kiểm tra, rà soát đối tượng trên là Nguyễn Văn B thuộc diện quản lý về ma túy nên Công an phường đưa về trụ sở làm việc và test nhanh phát hiện B dương tính với chất ma túy đá.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn B khai nhận: B sử dụng ma túy từ năm 2009, loại ma túy đá, hình thức sử dụng hút; lần gần nhất B sử dụng vào tối ngày 25/8/2025. Khoảng 18 giờ ngày 25/8/2025, B đi lên núi chơi thấy người đàn ông trước đây cùng đi ghe với B (không rõ nhân thân, lai lịch) đi xe Wave màu trắng (không nhớ biển số xe) đang ngồi trên dốc núi Lớn, khóm Bình Sơn, đường Trần Xuân Độ, phường Vũng Tàu, Tp. Hồ Chí Minh gần tượng Phật Bà Quan Âm. B đi đến hỏi thử mua 200.000đ ma túy đá, người đàn ông trên đồng ý bán và đưa B 01 gói ma túy đá, cho mượn 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý. B sử dụng ma tuý một mình tại bãi đất trống gần đó rồi trả bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá cho người bán ma túy trên và đi về nhà ngủ. Nguyễn Văn B là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an Phường 5, Tp. Vũng Tàu (cũ) lập hồ sơ đưa đi cai nghiện bắt buộc vào năm 2019 và năm 2024 theo các QĐ số 278/QĐ-TA ngày 01/10/2019 và QĐ số 186/QĐ-TA ngày 19/12/2024 của Tòa án nhân dân Tp. Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 11, Tp. Hồ Chí Minh), ngày 24/8/2025 Ủy ban nhân dân phường Vũng Tàu, Tp. Hồ Chí Minh ban hành Quyết định số 1492A/QĐ-UBND quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với Nguyễn Văn B.

Tại Bản kết luận giám định số 4821/KL-KTHS, ngày 14/9/2025, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tìm thấy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn B.

Bản cáo trạng số 89/CT-VKS-KV11 ngày 09-01-2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Văn B, về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025).

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù giam.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2009, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 18 giờ, ngày 25/8/2025, B đã mua 200.000đ ma túy của một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) trên dốc núi Lớn, khóm Bình Sơn, đường Trần Xuân Độ, phường Vũng Tàu, Tp. Hồ Chí Minh gần tượng Phật Bà Quan Âm để sử dụng tại một bãi đất trống gần đó rồi đi về nhà ngủ. Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 26/8/2025, Công an phường Vũng Tàu nhận được tin báo tại khu vực trên có đối tượng biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra, rà soát đối tượng Nguyễn Văn B thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú theo Quyết định số 1492A/QĐ-UBND ngày 24/8/2025 của Ủy ban nhân dân phường Vũng Tàu nên Công an phường đưa B về trụ sở làm việc và test nhanh phát hiện B dương tính với chất ma túy đá.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án và thẩm tra lại tại phiên tòa. Vì vậy, hành vi của bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự.

. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về ma túy, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương; nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm tương ứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, nhằm giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và nguyên tắc phòng ngừa tội phạm chung.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 26/05/2018, bị Tòa án nhân dân Tp. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu (nay là Tòà án nhân dân Khu vực 11, Tp. Hồ Chí Minh) tuyên phạt 1 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 108/HSST. Đã chấp hành xong hình phạt tù, đóng án phí hình sự nhưng chưa thực hiện án phí dân sự và bồi thường thiệt hại nên chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Về xử lý vật chứng: Vật chứng thu giữ của vụ án đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; khoản 1 Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21 tháng 10 năm 2025.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ