- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Gia B - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Gia B phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2026/HS-ST Ngày: 23-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Năm.
Bà Nguyễn Thị Hạnh.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà La Nguyễn Minh Thi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai và điểm cầu thành phần tại Phân trại tạm giam Tân Triều – Trại tạm giam số 1 xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 410/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2026/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Mai Gia B (Tên gọi khác: Không); Giới Tnh: Nam; sinh năm 2004 tại Hưng Yên. Nơi cư trú: tổ 11, khu phố A, phường T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Cao Đài; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Con ông Mai Thanh H và bà Nguyễn Thị Ngọc H1; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ tên Nguyễn Ngọc Mai P, có 01 con sinh năm 2024.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt ngày 01/10/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Tân Triều – Trại tạm giam số 1.
Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mai Gia B là đối tượng sử dụng ma túy tổng hợp (hàng khay). Vào các ngày 01/7/2025, 06/7/2025, B sử dụng mạng xã hội Telegram liên lạc đến tài khoản ghi chữ “Trung Quốc” của người tên T (không rõ lai lịch). B đã 02 (hai) lần đến khu vực gầm cầu Đồng Nai thuộc phường T, tỉnh Đồng Nai mua ma túy của T như sau: Lần 1, mua 01 gói ma túy hàng khay với giá 1.000.000đ (một triệu đồng); lần 2, mua 01 gói ma túy hàng khay và 01 viên ma túy thuốc lắc giá 2.000.000đ (hai triệu đồng). Sau khi mua được ma túy, B mang về nhà tại địa chỉ tổ 11, khu phố A, phường T, tỉnh Đồng Nai chia thành nhiều gói nhỏ để sử dụng và bán lại cho người sử dụng. Cách thức như sau:
Người sử dụng ma túy có nhu cầu mua ma túy đến gặp B hỏi mua ma túy, B hẹn địa điểm giao ma túy tại khu vực gần Công ty I, đường số 10, khu công nghiệp A, phường L, tỉnh Đồng Nai. Cụ thể:
Lần 1: Vào ngày 16/7/2025, tại địa điểm nêu trên, B đã bán cho Hoàng Minh T1 (sinh năm 2004, địa chỉ: Tổ 36, khu phố V, phường P, tỉnh Đồng Nai) 01 gói ma túy tổng hợp với giá 500.000đ (năm trăm ngàn đồng).
Lần 2: Vào ngày 18/7/2025, với cách thức như lần 1, B bán cho Hoàng Minh T1 01 gói ma túy tổng hợp và 01 viên ma túy thuốc lắc giá 700.000đ (bảy trăm ngàn đồng). T1 trả cho B 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) và nợ lại 500.000đ (năm trăm ngàn đồng).
Lần 3: Vào ngày 20/7/2025, với cách thức như trên, B bán cho Hoàng Minh T1 01 gói ma túy tổng hợp giá 500.000đ (năm trăm ngàn đồng). T1 nhận ma túy và nợ tiền B khi nào có trả sau.
Đến ngày 23/7/2025, T1 chuyển trả cho B qua số tài khoản 0862785255 Ngân hàng thương mại cổ phẩn Quân đội (MB) trả 1.500.000đ (một triệu năm trăm ngàn đồng) tiền 03 lần mua ma túy nêu trên.
Đến 21 giờ ngày 28/9/2025, B đến khu vực gầm cầu Đồng Nai thuộc phường T tiếp tục mua của đối tượng tên T (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 (một) gói ma túy tổng hợp hàng đá với giá 2.000.000đ (hai triệu đồng). Sau đó, B mang ma túy về nhà của B tại địa chỉ số nêu trên và lấy một phần ma túy ra sử dụng, phần còn lại cất giấu vào trong túi áo khoác để trong tủ trong phòng ngủ của B với mục đích để bán.
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 01/10/2025, tại nhà B tại địa chỉ nêu trên, B đang cất giấu 01 (một) gói ma túy nêu trên vào túi áo khoác để trong tủ trong phòng ngủ của B thì bị Công an phường T phát hiện bắt quả tang, lập hồ sơ chuyển giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai xử lý.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) gói nilong bên trong chứa chất màu trắng thu giữ trong túi áo khoác để trong tủ trong phòng ngủ của B (B khai là ma túy tổng hợp hàng khay).
- 01 (một) cân tiểu ly điện tử B dùng để phân chia ma túy.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Promax, màu xanh, số Imei: 356717111710116, B sử dụng liên lạc bán ma túy.
* Tại bản Kết luận giám định số 2586/KL ngày 07/10/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: “Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,6228gam loại Ketamine”.
Tại Cáo trạng số: 136/CT-VKSKV1 ngày 25 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai đã truy tố bị cáo Mai Gia B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Mai Gia B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Mai Gia B từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
Bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai:
Trong quá trình điều tra, truy tố thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cũng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên nên các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, đúng theo quy định của pháp luật.
Về hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo:
Từ ngày 16/7/2025 đến ngày 20/7/2025, tại khu vực gần Công ty I, đường số 10, khu công nghiệp A phường L, tỉnh Đồng Nai, Mai Gia B đã 03 (ba) lần bán cho Hoàng Minh T1 ma túy tổng hợp như sau: Lần 1 và lần 3 mỗi lần 01 gói giá 500.000đ (năm trăm ngàn đồng), lần 2 01 gói ma túy và 01 viên ma túy thuốc lắc với giá 700.000đ (bảy trăm ngàn đồng).
Vào lúc 16 giờ 00 phút ngày 01/10/2025, tại địa chỉ số 67, tổ 11, khu phố An Bình, phường T, tỉnh Đồng Nai, B đang cất giữ 1,6228 gam ma túy lại Ketamine chưa kịp bán thì bị Công an phường T phát hiện bắt quả tang.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi thực hiện tội phạm của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thể hiện tại hồ sơ vụ án; phù hợp với những nội dung mà bản Cáo trạng đã viện dẫn và truy tố.
Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Mai Gia B đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tệ nạn xã hội nên cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về biện pháp tư pháp:
- Đối với toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) cân tiểu ly điện tử của B sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Promax, màu xanh, số Imei: 356717111710116, B sử dụng liên lạc bán ma túy nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với Hoàng Minh T1 sau khi mua ma túy của B 03 lần nêu trên, T1 đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng. Tại thời điểm xét nghiệm ma túy đối với T1 kết quả Âm Tnh nên hành vi của T1 không cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đối với đối tượng tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) bán ma túy cho B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là đúng quy định.
Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 2 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Tuyên bố bị cáo Mai Gia B phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Mai Gia B 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được Tnh kể từ ngày 01/10/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định tại gói niêm phong số 2586/KL ngày 07/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) cân tiểu ly điện tử, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Promax, màu xanh, số Imei: 356717111710116 của Mai Gia B.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/12/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Đồng Nai).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14;
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - VKSND khu vực 1 – Đồng Nai; - Công an tỉnh Đồng Nai; - THADS tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Thanh Thủy |