vanban.org

Bản án 39/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Vy Văn V 01 (một) năm tù.

Trách nhiệm bồi thường dân sự đã thực hiện xong, đại diện bị hại không còn có yêu cầu giải quyết về bồi thường. Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Vy Văn V 01 Giấy phép lái xe hạng FC số 270165007237 mang tên Vy Văn V. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vy Văn V vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? Hình phạt: Xử phạt bị cáo Vy Văn V 01 (một) năm tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2025/HSST
Ngày 05-9-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Ninh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Anh;

Bà Triệu Thu Lương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Vy Tiến Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:

Vy Văn V; tên gọi khác: Không; sinh ngày 05 tháng 8 năm 1988 tại tỉnh Lạng Sơn; căn cước công dân số 020088009361, cấp ngày 28/9/2021 tại Cục Q; nơi cư trú: Thôn P, xã M, tỉnh Lạng Sơn (trước là: Thôn P, xã Y, huyện L, tỉnh Lạng Sơn); nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn B (đã chết) và bà Hoàng Thị C; v , con: Không có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Bị cáo chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý k luật; bị áp dụng biện pháptạm giam từ ngày 16/5/2025 đến nay; có mặt.

- Bị hại: Bà Phùng Thị Y, sinh năm 1985 (đã chết)

Người đại diện h p pháp của bị hại: Ông Lương Văn H, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn B, xã G, huyện C (nay là phường K), tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và l i ích h p pháp của bị hại: Bà Lương Thị Hương L, Luật sư, Tr giúp viên pháp lý Trung tâm tr giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L; vắng mặt.

- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH C1; địa chỉ: thôn T, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là xã L, tỉnh Bắc Ninh); người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Văn T, Giám đốc; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn B1, đội trưởng điều hành Công ty TNHH C1, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là xã L, tỉnh Bắc Ninh); vắng mặt.

- Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Hoàng Thị C, sinh năm 1954, nơi cư trú: thôn P, xã Y, huyện L, tỉnh Lạng Sơn (nay là thôn P, xã M, tỉnh Lạng Sơn); có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Vy Văn V là lái xe h p đồng của Công ty TNHH C1, địa chỉ tại thôn T, xã H, tỉnh Bắc Ninh, đư c giao lái xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu Chenglong, màu sơn xám, biển kiểm soát 98C-222.90 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 98R-033.46. Chiều ngày 15/5/2025, Vy Văn V một mình điều khiển xe ô tô trên đến kho của công ty TNHH T1 tại thôn L, xã M, tỉnh Lạng Sơn để lấy hàng. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Vy Văn V điều khiển xe quay về theo hướng từ xã L đi trung tâm phường K, khi đi đến đoạn đường tại Km 10+800 thuộc thôn B, phường K, tỉnh Lạng Sơn, Vy Văn V quan sát thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng, biển kiểm soát 12D1-078.09 do chị Phùng Thị Y, sinh năm 1985, trú tại thôn B, phường K, tỉnh Lạng Sơn điều khiển hướng ngư c chiều đang di chuyển từ phải sang trái đường để rẽ vào lối đi chùa B2 về nhà. Do chủ quan vì nghĩ rằng chị Phùng Thị Y chưa qua đường nên Vy Văn V không giảm tốc độ. Khi thấy chị Phùng Thị Y điều khiển xe đi từ bên trái sang bên phải đường theo chiều đi thì Vy Văn V liền đạp phanh và đánh lái sang phải để tránh va chạm nhưng do xe Vy Văn V đi nhanh, không đảm bảo về tốc độ để dừng lại đư c nên đã đâm vào xe mô tô do chị Phùng Thị Y điều khiển rồi kéo lê xe mô tô chui vào gầm xe ô tô của Vy Văn V cho đến khi đầu xe ô tô đâm vào tà luy dương bên phải đường thì xe mới dừng lại hoàn toàn. Sau khi xe dừng lại, Vy Văn V xuống xe thì thấy chị Phùng Thị Y nằm bất tỉnh trên vệ đường bên phải trong tình trạng chảy nhiều máu, Vy Văn V liền vẫy xe taxi và nhờ người dân xung quanh đưa đi cấp cứu nhưng do bị thương quá nặng nên chị Phùng Thị Y đã tử vong trên đường đi cấp cứu.

Sau khi tai nạn xảy ra, hồi 19 giờ 25 phút cùng ngày 15/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, kết quả đã xác định đư c:

- Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đường giao nhau giữa Quốc lộ D với đường rẽ vào chùa B2, đoạn đường thẳng theo hướng L đi thành phố L (nay là xã L đi trung tâm phường K), mặt đường trải bê tông nhựa. Đường đư c tổ chức giao thông 02 chiều xe chạy riêng biệt phân chia bởi giải phân cách cứng rộng 2,90m. Mặt đường vào chùa B2 rộng 11,30m, có bố trí vạch kẻ đường cho người đi bộ qua đường. Giữa mỗi chiều đường đư c kẻ vạch màu trắng phân chia thành 03 làn đường, làn bên phải ngoài cùng theo mỗi chiều đi là phần đường dành cho xe thô sơ và xe máy đư c kẻ bằng vạch liền sơn màu trắng rộng 2,40m; làn giữa và làn bên trái là phần đường dành cho xe cơ giới đư c kẻ bằng sơn đứt quãng màu trắng rộng 7,40m.

- Hệ thống báo hiệu đường bộ: Hướng xã L đi trung tâm phường K, phía trước hiện trường nơi xảy ra tai nạn có đặt biển báo hiệu nguy hiểm theo thứ tự như sau: Biển số W.207a (Giao nhau với đường không ưu tiên); Biển số W.224 (Người đi bộ cắt ngang); Biển số 1.409 (Chỗ quay xe) đư c đặt ở bên phải đường. Trên giải phân cách cứng đư c cắm biển số P.102.

- Xác định điểm mốc vụ tai nạn giao thông tại cột km 10+800 Quốc lộ D, lấy mép đường bên trái Quốc lộ D hướng xã L đi trung tâm phường K nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn và đo đạc, thu thập, mô tả theo hướng xã L đi trung tâm phường K. Đo từ cột Km 10+800 QL4B về hướng trung tâm phường K 51,75m là đầu vết mài trư t kép mầu đen đư c đánh dấu số 1 trên hiện trường.

+ Vị trí đánh dấu số 1 là vết mài trư t kép màu đen để lại trên mặt đường thuộc làn đường dành cho xe cơ giới, xe thô sơ, xe đạp và trên miệng cống bên phải đường. Vết có chiều hướng xã L đi trung tâm phường K. Vết có kích thước 34,10m x 0,60m. Đo từ đầu vết số 1 vào mép đường chuẩn là 18,30m, điểm cuối vết số 1 kết thúc tại bề mặt ngoài mặt lốp tiếp xúc với mặt đường (bánh lớp trục 1 bên phải của sơ mi rơ mooc biển số 98R-033.46). Đo từ đầu vết số 1 về hướng trung tâm phường K 9,60m là đầu vị trí đánh dấu số 2 trên hiện trường.

+ Vị trí đánh dấu số 2 là vết mài trư t kép màu đen để lại trên mặt đường thuộc làn đường dành cho xe cơ giới, xe thô sơ, xe đạp và trên miệng cống bên phải đường. Vết có chiều hướng xã L đi trung tâm phường K. Vết có kích thước 34m x 0,60m. Đo từ đầu vết số 2 vào mép đường chuẩn là 17,10m, điểm cuối vết số 2 kết thúc tại bề mặt ngoài mặt lốp tiếp xúc với mặt đường của bánh lốp trục 1 bên trái của sơ mi rơ móọc biển số 98R-033.46. Đo từ đầu vết số 2 về hướng trung tâm phường K 13m là đầu vị trí đánh dấu số 3 trên hiện trường.

+ Vị trí đánh dấu số 3 là đa vết cày trư t để lại trên mặt đường thuộc làn đường dành cho xe cơ giới, xe thô sơ, xe đạp và trên miệng cống bên phải đường. Vết có chiều hướng xã L đi trung tâm phường K. Vết có kích thước 21,60m x 0,97m. Đo từ đầu vết số 3 vào mép đường chuẩn là 20m. Đo từ cuối vết số 3 vào mép đường chuẩn là 24,33m. Đo từ đầu vết số 3 hướng xã L đi trung tâm phường K 18,60m là đầu tâm trục bánh ngoài dàn lốp thứ 3 bên trái của sơ mi rơ móoc biển số 98R-033.46 đư c đánh số 4 trên hiện trường.

+ Vị trí đánh dấu số 4 là xe ô tô đầu kéo biển số 98C-222.90 kéo theo sơ mi rơ móoc biển số 98R-033.46 đang đỗ trên hiện trường thuộc làn đường dành cho xe thô sơ, xe đạp, trên miệng cống và lề đất bên phải đường, đầu xe hướng trung tâm phường K, đuôi xe hướng xã L. Đo từ tâm trục bánh lốp phía trước bên trái xe ô tô đầu kéo biến số 98C-222.90 vào mép đường chuẩn là 24,90m. Đo từ tâm trục bánh lốp ngoài trục 3 bên trái xe ô tô đầu kéo biển số 98C-222.90 vào mép đường chuẩn là 24,10m. Đo từ tâm trục bánh lốp ngoài trục 1 sơ mi rơ móoc biển số 98R-033.46 vào mép đường chuẩn là 23,40m. Đo từ tâm trục bánh lốp ngoài trục 3 sơ mi rơ móoc biển số 98R-033.46 vào mép đường chuẩn là 22,80m. Đo từ tâm trục bánh lốp phía trước bên trái xe ô tô đầu kéo biển số 98C-222.90 chếch sang phải 1,5m là đầu tâm trục bánh lốp phía trước xe mô tô biển số 12D1-078.09 đư c đánh dấu số 5 trên hiện trường.

+ Vị trí đánh dấu số 5 là xe mô tô biển số 12D1-078.09 đang nằm đổ nghiêng bên trái trên lề đất bên phải đường dưới gầm đầu xe ô tô đầu kéo biển số 98C-222.90. Đầu xe hướng trung tâm phường K, đuôi xe hướng xã L. Đo từ đầu tâm trục bánh lốp phía trước vào mép đường chuẩn là 26,10m. Đo từ đầu tâm trục bánh lốp phía sau vào mép đường chuẩn là 26,80m. Đo từ đầu tâm trục bánh lốp phía sau chếch sang phải về hướng xã L 8,8m là tâm vùng chất dịch màu nâu đư c đánh dấu số 6 tiên hiện trường.

+ Vị trị đánh dấu số 6 là vùng chất dịch màu nâu để lại trên lề đất bên phải đường. Vết có kích thước 0,80m x 0,70m. Đo từ tâm vị trí đánh dấu số 6 vào mép đường chuẩn là 26,43m. Đo từ tim vị trí đánh dấu số 6 hướng xã L 2,30m là đầu vị trí đánh dấu số 7 trên hiện trường.

+ Vị trí đánh dấu số 7 là vết hằn (của bánh lốp xe đi qua) để lại trên lề đất bên phải đường. Vết có chiều hướng xã L đi trung tâm phường K. Vết có kích thước 11,10m x 0,60m. Đo từ đầu với 7 vào mép đường chuẩn là 25,30m. điểm cuối vết số 7 kết thúc tại bề mặt ngoài mặt lốp tiếp xúc với mặt đường của bánh lốp bên phải phía trước xe ô tô đầu kéo biến số 98C-222.90. Đo từ đầu vết 7 hướng xã L 7,33m là tâm vị trí đánh đấu số 8 trên hiện trường.

+ Vị trí đánh dấu số 8 là vùng mảnh vỡ (của xe mô tô biển số 12D1 - 078.09) để lại trên mặt đường thuộc làn đường dành cho xe cơ giới, xe thô sơ, xe đạp, trên miệng cống và lề đất bên phải tường (rải rác từ đầu vị trí đánh dấu số 3 đến xe mô tô biển số 12D1-07809). Đo từ tâm vùng mảnh vỡ vào mép đường chuẩn là 23,37m. Đo từ tâm vùng mảnh vỡ vào tiếp tuyến đường vào chùa B2 là 5,70m.

- Bản kết luận giám định tử thi số 402/KL-KTHS ngày 19/5/2025 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận:

+ Nguyên nhân chết: Chấn thương ngực kín;

+ Thời gian chết: Thời gian chết của tử thi so với thời điểm giám định là dưới 24 giờ.

- Kết luận giám định kỹ thuật số 98/GĐKT-ĐK ngày 25/6/2025 của Công ty cổ phần Đ, kết luận:

+ Xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu Chenglong, màu sơn xám, biển số 98C-222.90 (biển số nền vàng) khi xảy ra tai nạn, các hệ thống an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật.

+ Sơ mi rơ moóc biển số 98R-033.46 (biển số nền trắng) khi xảy ra tai nạn, các hệ thống an toàn của xe đầy đủ, hoạt động bình thường và đảm bảo an toàn kỹ thuật.

+ Xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, màu sơn trắng, biển số 12D1-078.09 khi xảy ra tai nạn, các hệ thống an toàn của xe như sau: Hệ thống đèn chiếu sáng, các đèn tín hiệu, hệ thống lái xe do xe tai nạn hư hỏng không có đủ cơ sở để kết luận; Các hệ thống an toàn khác của phương tiện đầy đủ đảm bảo an toàn kỹ thuật.

- Bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 17/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Lạng Sơn, kết luận:

+ Phần tài sản hư hỏng của 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Chenglong, màu sơn xám, số khung LGGG4DY35LL733403, số máy YC6MK42050MX1L6L00638, biển kiểm soát 98C-222.90, kéo theo sơ mi rơ moóc nhãn hiệu CIMC, số khung LJRP13388PN031081, biển kiểm soát 98R-033.46 đã qua sử dụng, thời điểm tháng 5/2025, có giá trị định giá là 4.950.000 đồng.

+ Giá trị còn lại của 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, màu sơn trắng, số khung 1200BY600910, số máy BC12E3401008, biển kiểm soát 12D1-078.09, đăng ký lần đầu ngày 12/3/2013, thời điểm tháng 5/2025, có giá trị định giá là 3.400.000 đồng.

Các biên bản kiểm tra nồng độ cồn và biên bản kiểm tra chất ma túy đối với Vy Văn V ngày 15/5/2025 thể hiện Vy Văn V không có nồng độ cồn trong khí thở và âm tính với chất ma túy. Vy Văn V có giấy phép lái xe hạng FC phù h p với phương tiện điều khiển.

Vật chứng là xe ô tô đầu kéo nhãn hiệu Chenglong, màu sơn xám, số khung LGGG4DY35LL733403, số máy YC6MK42050MX1L6L00638, biển kiểm soát 98C-222.90, kéo theo sơ mi rơ moóc nhãn hiệu CIMC, số khung LJRP13388PN031081, biển kiểm soát 98R-033.46; Giấy chứng nhận kiểm định số EB 1159341; Giấy chứng nhận kiểm định số EA 1654973; Giấy biên nhận thế chấp số 98C-222.90 của ngân hàng V1; Giấy biên nhận thế chấp số 98R-033.46 của ngân hàng V1 của công ty TNHH C1; xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng, BKS 12D1-078.09 của ông Lương Văn H, Cơ quan điều tra đã trả lại các vật chứng trên cho chủ sở hữu h p pháp.

Vật chứng là 01 Giấy phép lái xe hạng FC số 270165007237 mang tên Vy Văn V đã chuyển đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- Lạng Sơn để quản lý theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKS-KV1 ngày 11/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn truy tố bị cáo Vy Văn V về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi vi phạm khi tham gia giao thông như bản Cáo trạng nêu. Bị cáo khai đã học lái xe và đư c cấp Giấy phép lái xe hạng FC, nhưng do chủ quan khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đã gây tai nạn, bị cáo rất hối hận.

Lời khai tại cơ quan điều tra và đơn xin xét xử vắng mặt đại diện h p pháp của bị hại là ông Lương Văn H trình bày: Gia đình đã đư c mẹ bị cáo và Công ty TNHH C1 bồi thường tổng số tiền 175.000.000 đồng. Thông cảm cho hoàn cảnh khó khăn của bị cáo, gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường thêm khoản tiền nào khác và đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, người có quyền l i nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Hoàng Thị C trình bày: Bà đã mư n tiền để hỗ tr bị cáo bồi thường cho gia đình bị hại 70.000.000đồng, bà không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này cho bà. Bà đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo để về giúp đỡ bà do hiện nay bà đã già yếu, không lao động, không lấy nước sạch về để sinh hoạt đư c.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đánh giá đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội như Cáo trạng truy tố, nên giữ nguyên kết luận truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Vy Văn V phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.

Trách nhiệm bồi thường dân sự: Công ty TNHH C1 và mẹ bị cáo đã bồi thường tổng số 175.000.000 đồng cho gia đình bị hại, gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường thêm khoản tiền nào khác, nên không đề nghị giải quyết.

Vật chứng: Đề nghị trả lại cho bị cáo cho 01 Giấy phép lái xe hạng FC số 270165007237 mang tên Vy Văn V.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

Phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận.

Tại bài phát biểu gửi Hội đồng xét xử, người bảo vệ quyền và l i ích h p pháp cho bị hại trình bày: Về tội danh và khung hình phạt truy tố bị cáo Vy Văn V đã đúng, không có ý kiến. Về bồi thường dân sự thiệt hại tính mạng và tài sản của bị hại: Gia đình bị hại đã đư c mẹ bị cáo và Công ty TNHH C1 đã bồi thường tổng số 175.000.000 đồng. Gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường thêm khoản tiền nào khác, đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng, bị cáo nhận biết hành vi vi phạm quy định khi tham gia giao thông gây thiệt hại tính mạng về người và tài sản của người tham gia giao thông là vi phạm pháp luật. Bị cáo mong đư c hưởng án nhẹ nhất để sớm đư c trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều h p pháp.

Đối với việc vắng mặt đại diện h p pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và l i ích h p pháp của bị hại, bị đơn dân sự, Tòa án đã tiến hành tống đạt văn bản tố tụng theo quy định, đại diện h p pháp của bị hại, bị đơn dân sự có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt những người nêu trên.

Lời khai của bị cáo phù h p với nội dung khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện, Kết luận giám định tử thi, Kết luận định giá tài sản, Kết luận tình trạng kỹ thuật xe cơ giới, cùng các tài liệu chứng cứ khác thu thập đư c có trong hồ sơ vụ án, đã đư c thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định: Khoảng 18 giờ ngày 15/5/2025 Vy Văn V điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98C-222.90 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 98R-033.46 đi theo hướng từ xã L đến trung tâm phường K. Khi đi qua đoạn đường giao cắt với đường rẽ vào chùa B2 tại K+800 thuộc thôn B, phường K, tỉnh Lạng Sơn, do chủ quan nên Vy Văn V không giảm tốc độ đến mức cần thiết để đảm bảo an toàn nên đã đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 12D1-078.09 do chị Phùng Thị Y điều khiển đi qua đường, gây hậu quả chị Phùng Thị Y tử vong, gây thiệt hại về tài sản xe mô tô biển kiểm soát 12D1-078.09 số tiền 3.400.000 đồng, xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98C-222.90 số tiền 4.950.000 đổng, tổng thiệt hại về tài sản là 8.350.000 đồng.

Như vậy, bị cáo Vy Văn V điều khiển xe ô tô tham gia giao thông khi đi qua nơi có biển cảnh báo nguy hiểm, nơi giao nhau cùng mức đã không giảm tốc độ đến mức cần thiết để đảm bảo an toàn nên đã đâm vào xe mô tô do chị Phùng Thị Y điều khiển đi qua đường, gây hậu quả chị Phùng Thị Y tử vong, gây thiệt hại về tài sản số tiền 3.400.000 đồng. Hành vi của Vy Văn V đã vi phạm quy định tại các điểm b, điểm d, khoản 3, Điều 12 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2025, cụ thể: “3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong các trường hợp sau đây:…b) Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm…d) Nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường bộ…” và vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Đủ cơ sở kết luận bị cáo Vy Văn V phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Lạng Sơn đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo nhận thức đư c khi tham giao giao thông phải chấp hành đúng quy định Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, nhưng do chủ quan không kịp thời xử lý tình huống khi điều khiển xe ô tô khi tham gia giao thông đã gây tai nạn, gây thiệt hại tính mạng, tài sản, đây là hành vi phạm tội với lỗi vô ý. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn xã hội; đã trực tiếp xâm phạm tài sản của người tham gia giao thông, do đó cần phải xử lý nghiêm theo quy định.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; chưa lần nào bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý k luật; đư c đánh giá có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi bị cáo gây tai nạn giao thông, quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện. Bị cáo đã tác động bồi thường và đư c Công ty TNHH C1 và mẹ bị cáo đã bồi thường thiệt hại xong cho gia đình bị hại, đư c người đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị hại có một phần lỗi, nên bị cáo đư c hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận định, đánh giá trên, cần áp dụng một hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. [11] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Công ty TNHH C1 và mẹ bị cáo đã bồi thường thiệt hại tính mạng, tài sản bị hại tổng số 175.000.000 đồng cho gia đình bị hại, gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường thêm khoản tiền nào khác; đối với thiệt hại về tài sản xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98C-222.90 số tiền 4.950.000 đổng, công ty TNHH C1 không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về vật chứng vụ án: Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng FC số 270165007237 mang tên Vy Văn V, do không áp dụng hình phạt bổ sung, nên trả lại cho bị cáo.

Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Lạng Sơn phù h p với nhận định của Hội đồng xét xử nên đư c chấp nhận.

Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 13; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Vy Văn V phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Vy Văn V 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 16/5/2025.

3. Trách nhiệm bồi thường dân sự đã thực hiện xong, đại diện bị hại không còn có yêu cầu giải quyết về bồi thường.

4. Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Vy Văn V 01 Giấy phép lái xe hạng FC số 270165007237 mang tên Vy Văn V.

(Vật chứng trên đư c thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/8/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn).

5. Án phí: Buộc bị cáo Vy Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) nộp ngân sách nhà nước.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền l i, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đại diện h p pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đư c bản án hoặc bản án đư c niêm yết; bị đơn dân sự vắng mặt có quyền kháng cáo về bồi thường trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đư c bản án hoặc kể từ ngày bản án đư c niêm yết.

Cỡ chữ