- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thị Yến Nhi - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2025/HS-ST Ngày: 27-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thanh Tâm
2. Ông Phạm Phước Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Đồng Tháp
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2025/HSST-QĐ ngày 23 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Thị Yến N, sinh năm 1996 tại Đồng Tháp; Tên gọi khác: Không có; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp E, xã B, tỉnh Đồng Tháp. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Huỳnh Văn V, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1980; Chồng con chưa có; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không có; Tạm giữ, Tạm giam: Không có; Bị cáo tại ngoại (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Bị hại: Đặng Thị Bé D, sinh năm 1961 (đã chết)
Đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Ông Võ Văn T, sinh năm 1965; Địa chỉ: Ấp G, xã B, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).
2. Bà Võ Thị Ánh H, sinh năm 1983; Địa chỉ: Ấp G, xã B, tỉnh Đồng Tháp (Có mặt).
3. Anh Võ Quốc T1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Ấp G, xã B, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).
4. Anh Võ Tâm T2, sinh năm 1990; Địa chỉ: Ấp G, xã B, tỉnh Đồng Tháp (Vắng mặt).
5. Chị Võ Thị Kim S, sinh năm 1987; Địa chỉ: Ấp B, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định (nay là xã H, tỉnh Bình Định) (Vắng mặt).
Người làm chứng:
Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1980; Địa chỉ: Ấp E, xã B, tỉnh Đồng Tháp (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Huỳnh Thị Yến N bị Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Đồng Tháp truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 22/7/2024 bị cáo Huỳnh Thị Yến N, sinh năm 2001, ngụ ấp E, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã B, tỉnh Đồng Tháp) điều khiển xe mô tô biển số 66F1- 845.01 chở mẹ ruột tên Nguyễn Thị N1 trên đường nhựa nông thôn thuộc ấp G, xã B hướng Cầu B đi Kênh A, khi đến địa phận tổ A, ấp G, xã B do thiếu chú ý quan sát nên phần phía trước bên trái xe mô tô đã đụng vào vùng hông, tay và chân bên phải của bà Đặng Thị Bé D, sinh năm 1961, ngụ ấp G, xã B, huyện C (nay là xã B, tỉnh Đồng Tháp) đang đi bộ từ phần đường bên trái sang phần đường bên phải theo hướng di chuyển của mô tô do bị cáo N điều khiển (bà D từ trong nhà ra để đi qua đường thu gom nhang). Làm cho người và xe té ngã xuống đường, bà D được người nhà đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ cấp cứu nhưng đã tử vong tại bệnh viện. Riêng bị cáo N và bà N1 bị thương tích nhẹ.
Tại bản kết luận giám định tử thi số: 1030/KLGĐTT-KTHS ngày 30/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
1. Các kết quả chính: Bầm tụ máu dưới vùng da đầu; nứt; tụ máu ngoài dưới màng cứng; não phù, dập và xuất huyết lan tỏa hai bên bán cầu đại não.
2. Kết luận: Bà Đặng Thị Bé D, sinh năm 1961, bị đa chấn thương vùng đầu dẫn đến dập và xuất huyết não là nguyên nhân tử vong.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường lúc 14 giờ 20 phút ngày 22/7/2024 xác định:
Hiện trường bị xáo trộn không còn nguyên vẹn do trời mưa và hoạt động cấp cứu nạn nhân
Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông là đường thẳng, mặt đường rộng 3,5 mét, được trãi nhựa bằng phẳng, không có vạch kẻ đường phân chia làn đường, mật độ lưu thông phương tiện ít, bên phải hiện trường là hướng cầu B đi kênh A
Lấy cột đầu tiên bên trái nhà của bà Đặng Thị Bé D, bên trái hiện trường hướng kênh A đi cầu Bảy Thước làm điểm mốc, lấy mép đường bên phải hướng cầu B đi kênh A làm mép đường chuẩn, tất cả các số đo được tính bằng mét và đo vào lề chuẩn.
Tại biên bản dựng lại hiện trường lúc 09 giờ 30 phút ngày 07/12/2024 (xác định vùng va chạm)
Vùng va chạm có kích thước 0,50 x 0,50 mét, tâm vùng va chạm đo vào lề chuẩn là 1,40 mét.
Từ kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả dựng lại hiện trường, biên bản khám phương tiện, kết luận giám định tử thi và kết quả điều tra xác định: Huỳnh Thị Yến N điều khiển xe mô tô không chú ý quan sát (đã vi phạm vào điểm a, khoản 7, Điều 5 Nghị Định số 100/2019 ngày 30/12/2019 của Chính phủ) gây ra vụ tai nạn làm nạn nhân Đặng Thị Bé D tử vong.
Cơ quan điều tra tạm giữ của bị cáo xe mô tô biển số 66F1- 845.01, nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu trắng- đen-bạc; Giấy chứng nhận đang ký xe mô tô, xe máy số 076458; Giấy phép lái xe hạng A1, số 871209002991 mang tên Huỳnh Thị Yến N.
Quá trình điều tra, bị cáo tự nguyện thỏa thuận với đại diện hợp pháp của bị hại là Võ Thị Ánh H, Võ Quốc T1, Võ Thị Kim S, Võ Tâm T2, Võ Văn T chi phí điều trị, tiền tổn thất tinh thần, tiền mai táng phí và các chi phí hợp lý khác với số tiền 85.000.000 đồng (T3 mươi lăm triệu đồng), bị cáo đã bồi thường xong số tiền trên, đại diện hợp pháp không có yêu cầu gì thêm, đồng thời làm đơn bãi nại đối với N.
Cơ quan điều tra tiến hành trao trả lại cho bị cáo N xe mô tô biển số 66F1-845.01, nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu trắng- đen-bạc; Giấy chứng nhận đang ký xe mô tô, xe máy số 076458, đối với giấy phép lái xe hạng A1, số 871209002991 mang tên Huỳnh Thị Yến N xử lý theo quy định pháp luật
Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi, cùng các chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 59/CT-VKSKV9 ngày 27/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Huỳnh Thị Yến N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Đồng Tháp giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
- Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Yến N phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Yến N với mức án từ 01 năm đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo.
- Về dân sự: Không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Trả lại cho trả lại cho bị cáo giấy phép lái xe hạng A1, số 871209002991 mang tên Huỳnh Thị Yến N.
Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại chị Võ Thị Ánh H trình bày:
- Chị H thống nhất với Bản Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát. Gia đình bị hại đã nhận được của bị cáo là 85.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Về phần hình phạt đối với bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận, đối đáp gì. Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát Khu vực 9 – Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Huỳnh Thị Yến N thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 59/CT-VKSKV9 ngày 27/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Đồng Tháp là đúng với hành vi của bị cáo.
Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 22/7/2024 bị cáo đã điều khiển xe mô tô biển số 66F1- 845.01 chở mẹ ruột tên Nguyễn Thị N1, trên đường nhựa nông thôn khi đến địa phận tổ A, ấp G, xã B, tỉnh Đồng Tháp do thiếu chú ý quan sát nên gây ra vụ tai nạn. Hậu quả làm bà Đặng Thị Bé D tử vong.
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng đến vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi của bị cáo đã vi phạm vào điểm a khoản 7 Điều 5 Nghị Định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.
Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham giao giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:
“ 1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người
........................................”
Xét hành vi của bị cáo Huỳnh Thị Yến N, khi thực hiện tội phạm là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bản thân bị cáo đã học tập và được cấp giấy phép lái xe theo quy định nhưng bị cáo điều khiển xe không tuân thủ đúng quy định của pháp luật về giao thông đường bộ. Cụ thể là bị cáo đã điều khiển xe thiếu quan sát, không đảm bảo an toàn giao thông để xảy ra va chạm khi lưu thông và đây là nguyên nhân chính gây ra vụ tai nạn giao thông như đã nêu trên.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tâm lý người dân khi tham gia giao thông, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Do vậy, đối với bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, được đại diện hợp pháp của bị hại xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi lượng hình cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét thấy, bị cáo Huỳnh Thị Yến N có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và không có tình tiết tăng nặng, đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam mà chỉ áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo. Đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo học tập, lao động để trở thành công dân tốt và là người có ích cho gia đình, xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự là không cần thiết.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường khắc phục hậu quả số tiền 85.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong. Người đại diện hợp pháp của bị hại không còn yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đối với giấy phép lái xe hạng A1, số 871209002991 mang tên Huỳnh Thị Yến N là tài sản cá nhân của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Căn cứ quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Huỳnh Thị Yến N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Đồng Tháp về tội danh, điều luật truy tố và các vấn đề khác là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Yến N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị Yến N 01 (Một) năm tù, cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 27/9/2025).
Giao bị cáo Huỳnh Thị Yến N cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Đồng Tháp để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Huỳnh Thị Yến N cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Huỳnh Thị Yến N phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp đang trong thời gian thử thách mà bị cáo Huỳnh Thị Yến N phạm tội mới, thì Tòa án buộc bị cáo Huỳnh Thị Yến N phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật hình sự.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho bị cáo 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1, số 871209002991 mang tên Huỳnh Thị Yến N
Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra (PC01) Công an tỉnh Đ với Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9 – Đồng Tháp.
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo Huỳnh Thị Yến N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND Khu vực 9; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Đồng Tháp; - CQTHAHS Công an tỉnh Đồng Tháp; - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VPTA & hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Võ Thị Kim Hoa |