- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thành Roal - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thành R phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2025/HS-ST Ngày: 12/5/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vũ Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Khưu Hán Quang
2. Ông Bùi Văn Chiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quốc Thiên Hương – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thiện, Bà Trần Huyền Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXX-ST ngày 25 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Thành R; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1980 tại CZM; hộ khẩu thường trú: Khóm 3, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văm Thời, tỉnh CZM; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thành H và bà Trương Kim L; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 05/11/2024.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Hồng G, sinh năm: 1984; địa chỉ thường trú: Khóm 3, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văm Thời, tỉnh CZM; địa chỉ tạm trú: 105 Lạc Long Quân, Phường 3, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 10 phút ngày 05/11/2024, Tổ tuần tra 363 Công an Quận X tuần tra đến trước số 240 Lạc Long Quân, Phường 10, Quận X, phát hiện Lê Thành R điều khiển xe mô tô biển số 69N1-428.07 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành dừng xe kiểm tra. Tại thời điểm kiểm tra phát hiện trong túi quần bên phải của R có một đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong đoạn ống hút có chứa tinh thể là ma túy, Tổ tuần tra đã tạm giữ đoạn ống hút có chứa ma túy và đưa Lê Thành R về trụ sở Công an Phường 10, Quận X tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy đối với Lê Thành R. Kết quả R dương tính với ma túy.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận X tiến hành trưng cầu giám định số lượng ma túy thu giữ của Lê Thành R. Tại bản kết luận giám định số: 13295/KL-KTHS ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh xác định: 01 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Lê Thành R và hình dấu Công an Phường 10, Quận X, bên trong có: 01 đoạn ống hút nhựa chứa bột ký hiệu mẫu (m) cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1646g, loại Heroin.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Thành R khai nhận: Nguồn gốc ma túy do Lê Thành R mua vào ngày 03/11/2024 với giá 500.000 đồng của một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) tại khu vực cổng khu công nghiệp Tân Bình, mục đích để sử dụng, R thường sử dụng ma túy một mình, không sử dụng chung với ai khác.
Vật chứng thu giữ:
- 01 gói niêm phong ghi vụ số 4113/24 bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Điều tra viên, chứa số ma túy còn lại sau giám định.
- 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đen đã qua sử dụng. Đây là vật dụng R dùng để liên lạc mua ma túy.
- 01 ống kim tiêm. Đây là dụng cụ R dùng để sử dụng ma túy;
- 01 xe mô tô biển số 69N1-428.07, tiến hành trưng cầu giám định số khung, số máy, xác định số máy, số khung nguyên thủy, không bị đục lại số. Lê Thành R khai nhận vào ngày 05/11/2024 có mượn xe biển số 69N1 - 428.07 của em gái tên Lê Hồng Gruil (sinh năm 1984) để đi mua đồ ăn thì bị kiểm tra, bắt giữ. R không sử dụng phương tiện trên để đi mua ma túy. Qua làm việc Lê Hồng Gruil được biết, vào ngày 05/11/2024 anh trai Lê Thành R mượn xe đi mua đồ ăn, chị Gruil không biết anh trai sử dụng phương tiện trên vào mục đích gì khác. Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trả xe mô tô trên cho chủ sở hữu là chị Lê Hồng Gruil.
- 01 đĩa CD ghi âm ghi hình việc hỏi cung bị can Lê Thành R (lưu hồ sơ vụ án);
Bản cáo trạng số 48/CT-VKSQ11 ngày 03 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân Quận X truy tố bị cáo Lê Thành R tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận X trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Lê Thành R từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; đồng thời đề nghị hướng xử lý vật chứng như sau: Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi vụ số 4113/24 bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Điều tra viên, chứa số ma túy còn lại sau giám định; 01 ống kim tiêm; Tịch thu 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đen đã qua sử dụng. Đây là vật dụng R dùng để liên lạc mua ma túy; Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa CD ghi âm ghi hình việc hỏi cung bị can Lê Thành R.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thành R đã khai nhận hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, các bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì và nói lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an Quận X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, các đương sự khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét, lời khai của bị cáo tại phiên Tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, bản tự khai, kết luận giám định, nên có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 05/11/2024, tại trước số 240 Lạc Long Quân, Phường 10, Quận X, Lê Thành R cất giữ trái phép 0,1646 gam ma túy ở thể rắn, loại Heroine, để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị can R (không rõ lai lịch), Cơ quan cảnh sát điều tra đang xác minh và đã gửi yêu cầu đến Công ty dịch vụ Mobiphone Khu vực 2 để yêu cầu cung cấp thông tin liên quan đến số thuê bao 0907678955, đến nay chưa có kết quả trả lời, khi nào có thông tin sẽ tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Thành R đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân Quận X truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
. Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thành R là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đủ nhận thức để biết rõ tác hại của ma túy nhưng vì muốn thỏa mãn bản thân nên bất chấp xem thường pháp luật cố tình phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến chế độ quản lý độc quyền các chất gây nghiện của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác nên cần có mức án nghiêm khắc để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
. Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận X và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo R thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên không cần bắt bị cáo phải chịu phạt tiền.
. Về xử lý vật chứng của vụ án:
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi vụ số 4113/24 bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Điều tra viên; 01 ống kim tiêm.
- Tịch thu 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đen đã qua sử dụng. Đây là vật dụng R dùng để liên lạc mua ma túy;
- Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa CD ghi âm ghi hình
. Về án phí: Bị cáo Lê Thành R phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Lê Thành R phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Thành R 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi vụ số 4113/24 bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Điều tra viên; 01 ống kim tiêm.
- Tịch thu 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu đen đã qua sử dụng. Đây là vật dụng R dùng để liên lạc mua ma túy;
- Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa CD
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 235/LNK-ĐCSMT ngày 12/02/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự; trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Áp dụng vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TPHCM; - VKSND TPHCM; - Sở Tư pháp TPHCM; - PC 27 - CA TPHCM; - VKSND Q.11; - Chi cục THADS Q.11; - Bị cáo; - Phân trại tạm giam khu vực Quận X; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Vũ Vân |