vanban.org

Bản án 39/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 16/01/2025. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 339/2025/HS-ST
Ngày: 10/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:1/ Bà Nguyễn Thị Hồng Phượng.

2/ Ông Trần Chính.

- Thư ký phiên tòa: Bà La Nguyễn Minh Thi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 331/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 342/2025/QĐXXST-HS ngày 21/5/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành S; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1996; tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; HKTT: Xóm D, khu B, ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ: không; Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Gái E; Chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 23/6/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt 01 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2017, đã đóng án phí.

- Ngày 10/5/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/01/2020, đã đóng án phí.

- Ngày 19/01/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bị cáo chấp hành xong quyết định ngày 25/12/2023.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2025. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực B.

Bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thành S là người nghiện ma túy. Để có ma túy sử dụng, khoảng 16 giờ ngày 15/01/2025, S đón xe buýt đi từ huyện T, tỉnh Đồng Nai đến khu vực cổng S thuộc phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh để mua ba túy. Tại đây, S gặp một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) và đã mua của người ngày 01 gói ma túy có kích thước 6x4cm với giá 1.500.000đ (một triệu năm trăm ngàn đồng). Khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày, sau khi mua được ma túy, S cất giấu trong người và đón xe ôm đi về khu vực thuộc tổ H, khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để tìm chỗ sử dụng thì bị lực lượng tuần tra Công an phường A, thành phố B phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

* Vật chứng thu giữ :

- 01 (một) gói nilon có chứa chất màu trắng thu giữ của Nguyễn Thành S (đã được niêm phong).

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03, số IMEI: 350538284052938.

Tại Bản kết luận giám định số 140/KL-KTHS ngày 22/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: “mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 2,2150 gam, loại Methamphetamine”.

Tại Cáo trạng số: 340/CT-VKSBH ngày 07/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố Nguyễn Thành S về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt Nguyễn Thành S mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không nộp thêm tài liệu chứng cứ nào khác. Bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về pháp luật áp dụng và xác định tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của người làm chứng và chứng cứ có tại hồ sơ. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 15/01/2025, Nguyễn Thành S đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,2150 gam ma túy loại Methamphetamine thì bị Công an phường A bắt quả tang và lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B điều tra, xử lý.

Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tệ nạn xã hội, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử lý hình sự, đã được áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội nên cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về biện pháp tư pháp:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định đựng trong gói niêm phong số 140/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Đ.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03, số IMEI: 350538284052938 của S không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Nguyễn Thành S.

- Đối với đối tượng nam giới (không rõ nhân thân, lai lịch) đã bán cho Nguyễn Thành S gói ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đang tiếp tục điều tra, xác minh, khi đủ căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Về án phí HSST: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 16/01/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định đựng trong gói niêm phong số 140/KL-KTHS ngày 22/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ.

- Trả lại 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03, số IMEI: 350538284052938 cho Nguyễn Thành S.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14;

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ