- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Đình D - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: H Đ D 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 12/12/2024.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T T TH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2025/HS-ST Ngày: 15 - 4 - 2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T T, TH PHỒ HÀ NỘI
- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trí Tuân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Miến
Bà Nguyễn Thị Mai
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lân - Thư ký, Toà án nhân dân huyện T T, Th phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T T, Th phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Triệu Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T T, Th phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2025/TLST - HS ngày 26 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
* Bị cáo: H Đ D, sinh năm 1995 tại huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn 5, xã T H, huyện T T, Th phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông H Đ A và bà T; vợ, con: Không có; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/8/2021 tại quyết định số 210A/QĐ-UBND xã T H quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thời gian áp dụng 03 tháng từ 15/8/2021 đến 15/11/2021; danh bản, chỉ bản số 486 do Công an huyện T T lập ngày 21/12/2024; bị tạm giữ ngày 12/12/2024, tạm giam ngày 20/12/2024. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: N D T, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn Linh Sơn, xã B Y, huyện T T, Th phố Hà Nội. Vắng mặt.
* Người làm chứng:
- Anh H H Q, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T T, Th phố Hà Nội. Vắng mặt.
- N L A, sinh năm 2006; địa chỉ: Thôn P Đ, xã S , huyện Q , Th phố Hà Nội. Vắng mặt.
- Ông B V M, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn 1, xã T X, huyện T T, Th phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 11/12/2024 H Đ D, sinh năm 1995 ở Thôn 5, xã T H, huyện T T, Th phố Hà Nội đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi đến từ tài khoản Facebook “Sống đúng chất” của N D T, sinh năm 1992 ở Thôn Linh Sơn, xã B Y, huyện T T, Th phố Hà Nội. Th hỏi mua 02 (hai) lọ tinh dầu chứa chất ma túy. D đồng ý bán cho Th với giá 1.000.000 đồng và yêu cầu Th chuyển tiền đến số tài khoản 0869988159 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội (MBBank) mang tên H Đ D. Do không có tiền trong tài khoản nên Th đến một cửa hàng điện thoại trên đường Quốc lộ 21 thuộc thôn 3, xã T H, huyện T T, Th phố Hà Nội do anh H H Q, sinh năm 1991 ở Thôn Tam Canh, xã T, huyện T T, Th phố Hà Nội làm chủ và đưa 1.000.000 đồng tiền mặt, nhờ anh Quân chuyển tiền vào số tài khoản 0869988159 của D. Sau đó Th báo lại cho D biết đồng thời hẹn địa điểm mua bán ma túy tại thôn Kim Bông, xã T X, huyện T T, Th phố Hà Nội.
Để có ma túy bán, D sử dụng tài khoản Facebook “D ka” nhắn tin vào tài khoản Facebook tên “Chill hân” của một người không quen biết hỏi mua 02 lọ ma túy tinh dầu Chill với giá 550.000 đồng. Chủ tài khoản Facebook tên “Chill hân” có gửi số tài khoản 09150655895 tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội (MBBank) mang tên N L A và bảo D chuyển tiền trước sau đó mới giao ma túy. D đồng ý và sử dụng tài khoản 0869988159 của D chuyển số tiền 550.000 đồng vào số tài khoản trên. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, D nhận được tin nhắn của chủ tài khoản Facebook “Chill hân” là ra cổng nhà văn hóa ở Thôn 5, xã T H, huyện T T lấy ma túy và ảnh vị trí cất giấu ma túy. D đi ra nhà văn hóa thôn 5, xã T H và lấy 02 lọ tinh dầu chứa ma túy cất vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc trên người rồi đi đến khu vực thôn Kim Bông, xã T X, huyện T T đợi gặp Th để bán cho Th, nhưng chưa kịp bán thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, bắt giữ cùng vật chứng: 02 (Hai) ống nhựa có nắp màu vàng, hình trụ đều có chiều cao 5,5cm, đường kính đáy 02 cm, bên trong chứa chất dung dịch màu trắng và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đỏ đã qua sử dụng, số IMEI 356115090869404.
Tại Kết luận giám định số 8687/KL-KTHS ngày 21/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Th phố Hà Nội, kết luận: “Dung dịch màu trắng trong mẫu gửi giám định là ma túy loại MDMB-INACA; ma túy loại MDMB-BUTINACA; ma túy loại MDMB-4en-PINACA, tổng thể tích 06ml”.
Tại bản cáo trạng số 41/CT -VKS-TT ngày 26/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T T đã truy tố bị cáo H Đ D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo H Đ D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu trên. Do bản thân bị cáo đã sử dụng tinh dầu Chill có chất ma túy và hám lợi nên khi N D T gọi điện hỏi mua ma túy và chuyển tiền thì bị cáo đồng ý. Sau khi mua được ma túy bị cáo chưa kịp bán thì bị Công an xã T X phát hiện và bắt giữ cùng tang vật. Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện T T trình bày luận tội giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố H Đ D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt H Đ D từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H Đ D. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy sau giám định; tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động màu đỏ nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng và truy thu bị cáo H Đ D số tiền 1.000.000 đồng thu lợi bất chính.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và đến thời điểm tòa án xét xử thì bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo H Đ D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp vật chứng vụ án, bản kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Do bản thân bị cáo đã sử dụng tinh dầu Chill có chất ma túy và hám lợi nên khoảng 19 giờ 30 phút ngày 11/12/2024, sau khi nhận được tin nhắn qua tài khoản Facebook của N D T hỏi mua 02 lọ tinh dầu Chill chứa ma túy, bị cáo đồng ý thống nhất giá bán, địa điểm giao ma túy. Khi nhận được số tiền 1.000.000 đồng của người mua ma túy chuyển qua tài khoản thì bị cáo đi mua 550.000 đồng 02 lọ tinh dầu Chill chứa ma túy của một người không quen biết qua mạng. Sau khi mua được ma túy bị cáo đi đến khu vực thôn Kim Bông, xã T X, huyện T T để giao ma túy cho người mua nhưng chưa kịp giao ma túy thì Công an bắt quả tang thu giữ 02 lọ tinh dầu chứa ma túy loại MDMB-INACA, ma túy loại MDMB-BUTINACA, ma túy loại MDMB-4en-PINACA, tổng thể tích 06ml cùng vật chứng khác của vụ án.
Như vậy, hành vi tàng trữ 06ml ma túy loại MDMB-INACA, ma túy loại MDMB-BUTINACA, ma túy loại MDMB-4en-PINACA với mục đích mua bán để hưởng lợi 450.000 đồng của H Đ D đã đủ yếu tố cấu Th tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T T truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, ma túy là chất gây nghiện được Nhà nước độc quyền quản lý. Nhà nước nghiêm cấm người dân mua bán, sử dụng ma túy dưới mọi hình thức. Nhân thân của bị cáo bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học thay đổi bản thân mà còn có hành vi phạm tội về ma túy. Do vậy, cần có mức hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo Th người tốt và phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Không có
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo Th khẩn khai báo về hành vi phạm tội là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy bị cáo là đối tượng lao động tự do, công việc không ổn định và phải chấp hành hình phạt tù nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
. Về nguồn gốc số ma tuý, bị cáo H Đ D khai mua và chuyển tiền cho một người phụ nữ không quen biết qua mạng Facebook. Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát nhưng không làm rõ được để xử lý.
Đối với N D T là người hỏi mua ma túy của D, đã chuyển tiền cho D nhưng Th chưa gặp D, chưa nhận được ma túy. Test thử tìm chất ma túy trong nước tiểu của Th thì cho kết quả âm tính nên hành vi của Th không phạm tội. Cơ quan điều tra không xử lý hành vì của N D T là có căn cứ.
Đối với số tài khoản 09150655895 tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội (MBBank) chủ tài khoản tên chị N L A, sinh năm 2006 ở thôn P Đ, xã S , huyện Q , Th phố Hà Nội. Chị Lâm Anh và D không có quan hệ quen biết nhau. Chị Lâm Anh khai ngày 11/12/2024 có một thanh niên đã nhờ số tài khoản ngân hàng nêu trên của chị để nhận hộ số tiền 550.000 đồng và đổi lấy tiền mặt tương ứng, dù không biết tên tuổi, địa chỉ nhưng chị vẫn đồng ý. Do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với anh H H Q là người chuyển tiền hộ cho Th đến số tài khoản của H Đ D số tiền 1.000.000 đồng nhưng anh Quân không biết mục đích chuyển tiền của Th nhờ là gì nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với số tiền 1.000.000 đồng mà bị cáo nhận được từ người mua ma túy. Bị cáo đã sử dụng 550.000 đồng để mua ma túy còn 450.000 đồng là số tiền bị cáo thu lợi bất chính nên cần truy thu buộc bị cáo phải nộp.
. Về xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy được gói niêm phong sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động màu đỏ nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng, số IMEI 356115090869404 thu giữ của bị cáo D là vật chứng vụ án. Bị cáo dùng điện thoại trên để liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
. Về án phí: Bị cáo H Đ D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: H Đ D 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 12/12/2024.
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký niêm phong của H Đ D, giám định viên và cán bộ công an huyện T T.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại kiểu dáng Iphone màu đỏ đã qua sử dụng, bị vỡ màn hình, tình trạng máy: Phồng pin, không mở được máy, không xác định được tình trạng máy.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an Th phố Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T T số 51 ngày 10/4/2025).
Truy thu buộc bị cáo H Đ D phải nộp số tiền 450.000 đồng thu lợi bất chính.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo H Đ D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan của bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Th phố Hà Nội; - VKSND; CQTHA HS huyện T T; - CCTHADS huyện TT; - Bị cáo…; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Trí Tuân |