vanban.org

Bản án 39/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Võ Hồng T.

Về hôn nhân: Cho anh Võ Hồng T ly hôn với chị Trần Thị T1. Việc nuôi con: Giao con chung là Võ Trần Bảo N, sinh ngày 13 tháng 6 nặm 2019 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T1 do an… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "án hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Võ Hồng T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 26/6/2025
V/v:“Ly hôn, giải quyết nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Văn Hoà

2. Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thùy Trang - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: ông Nguyễn Văn Chắt - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn - tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 108/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: anh Võ Hồng T, sinh năm 1988 (Có mặt)

Trú tại: xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An

- Bị đơn: chị Trần Thị T1, sinh năm 1987 (Vắng mặt)

Trú tại: xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn và trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Võ Hồng T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh và chị Trần Thị T1 có đăng ký kết hôn vào ngày 29 tháng 3 năm 2018 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, cuộc sống không hạnh phúc, đã ly thân nhau từ năm 2023 đến nay. Hiện tại anh không còn tình cảm với chị T1 nên yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn.

Về con chung: anh và chị Trần Thị T1 có một con chung là Võ Trần Bảo N, sinh ngày 13 tháng 6 nặm 2019. Ly hôn anh T có nguyện vọng được nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là chị Trần Thị T1:

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho chị T1 biết đồng thời tống đạt các tài liệu, giấy triệu tập hợp lệ cho thân nhân của chị T1 nhưng chị T1 không có mặt để giải quyết vụ án. Qua xác minh biết chị T1 hiện đang đi làm ăn xa, việc anh T yêu cầu ly hôn chị T1 biết nhưng không có ý kiến gì. Tòa án tiến hành niêm yết các tài liệu, chứng cứ tại địa phương nơi chị T1 cư trú theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.

- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án: Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại điều 51, điều 236, điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật

- Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Võ Hồng T là cho ly hôn với chị Trần Thị T1; Việc nuôi con đề nghị hội đồng xét xử giao con chung là Võ Trần Bảo N, sinh ngày 13 tháng 6 nặm 2019 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành; Về án phí: Nguyên đơn anh Võ Hồng T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn anh Võ Hồng T có nơi cư trú tại xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An yêu cầu ly hôn với chị Trần Thị T1 là bị đơn có nơi cư trú tại xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Về việc xét xử vắng mặt của bị đơn: Bị đơn chị Trần Thị T1 có hộ khẩu thường trú tại xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo cho chị T1 biết đồng thời tống đạt các tài liệu cho chị T1. Việc anh T làm đơn yêu cầu ly hôn chị T1 biết nhưng không có ý kiến gì. Chị T1 biết được thời gian, địa điểm đến Toà án để giải quyết vụ án nhưng do đang đi làm ăn xa không về được và chị T1 cũng không có ý kiến gì. Toà án đã tiến hành niêm yết các tài liệu, giấy triệu tập và các chứng cứ tại địa phương nơi chị T1 cư trú theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung

2.1. Về quan hệ hôn nhân: anh Võ Hồng T và chị Trần Thị T1 có đăng ký kết hôn vào ngày 29 tháng 3 năm 2018 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Quá trình chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, không có được tiếng nói chung, đã ly thân nhau từ năm 2023 đến nay. Nay anh T không còn tình cảm với chị T1 nữa. Xét thấy tình cảm giữa anh T và chị T1 không còn, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Võ Hồng T.

2.2. Về con chung: anh Võ Hồng T và chị Trần Thị T1 có một con chung là Võ Trần Bảo N, sinh ngày 13 tháng 6 nặm 2019. Ly hôn anh T có nguyện vọng được nuôi con vì từ ngày anh chị sống ly thân con ở với anh T, anh là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, hiện tại có cuộc sống ổn định. Chị T1 không có nguyện vọng gì về việc nuôi con. Do đó hội đồng xét xử thấy rằng cần giao con chung là Võ Trần Bảo N cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành là phù hợp.

2.3. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T1 do anh T không yêu cầu.

2.4. Về tài sản chung, nợ chung: anh Võ Hồng T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

. Về án phí: Nguyên đơn anh Võ Hồng T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39; điểm b khoản 2 điều 227, điểm b khoản 1 điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56; điều 58; điều 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Võ Hồng T.

1.Về hôn nhân: Cho anh Võ Hồng T ly hôn với chị Trần Thị T1.

2.Việc nuôi con: Giao con chung là Võ Trần Bảo N, sinh ngày 13 tháng 6 nặm 2019 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị T1 do anh T không yêu cầu.

Chị T1 có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng theo quy định của pháp luật thì có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án anh Võ Hồng T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng đã nộp tại biên lai thu tiền số 0012625 ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn.

4. Nguyên đơn anh Võ Hồng T có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn chị Trần Thị T1 có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ