- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị Kim N xin ly hôn anh Lương Văn L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị Kim N được ly hôn với anh Lương Văn L
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2025/HNGĐ-ST Ngày: 11-9-2025 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – VĨNH LONG -TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ánh Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Ngọc Hải
Ông Nguyễn Minh Thuận
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Giang là thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Vĩnh Long: Không tham gia phiên tòa
Ngày 11 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXX-ST ngày 01 tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2025/QĐST-HN ngày 22/8/2025 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim N, sinh năm 1990 (xin vắng)
Địa chỉ: 14 T, KV1, A, B, Cần Thơ
Nay là 14 T, KV1, phường B, TP. Cần Thơ
-Bị đơn: Anh Lương Văn L, sinh năm 1989 (vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm T, thị trấn Q, huyện B, tỉnh Vĩnh Long
Nay là khóm T, xã Q, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/3/2025 và các lời trình bày tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, chị Lê Thị Kim N trình bày:
Anh chị cưới nhau vào năm 2016, hôn nhân do tự tìm hiểu nhau sau đó cưới, tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn Tân Quới, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
Trong quá trình chung sống anh chị không có tài sản chung, không có nợ.
Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, chị đã cho anh Luân rất nhiều cơ hội để bắt đầu lại mối quan hệ nhưng không đạt kết quả hạnh phúc, hiện nay đã trầm trọng nên cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh chị đã ly thân từ đầu năm 2023 đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn anh Lương Văn L.
Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu giải quyết cho ly hôn với anh Lương Văn L.
Về con chung: Yêu cầu giao con chung là cháu Lương Hồng N cho mẹ nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng.
Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho anh Lương Văn L nhưng hết thời gian thông báo đương sự không cung cấp văn bản trình bày ý kiến. Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên hòa giải cho bị đơn, nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do chính đáng. Như vậy, vụ án không tiến hành hòa giải được do bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ mà vẫn cố tình vắng mặt.
Tại phiên tòa nguyên đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do dù đã triệu tập đến lần thứ hai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Lê Thị Kim N về việc yêu cầu được ly hôn với anh Lương Văn L; về con chung có 01 người con chung, về tài sản chung, nợ chung chị Lê Thị Kim N không tranh chấp và không yêu cầu giải quyết là tranh chấp về ly hôn, nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn anh Lương Văn L có nơi cư trú tại xã Tân Quới, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân khu vực 3 – Vĩnh Long giải quyết.
Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân khu vực 3 – Vĩnh Long tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tranh chấp ly hôn, các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án nhân dân khu vực 3 – Vĩnh Long không phải tiến hành thu thập chứng cứ; các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia kiểm sát việc tuân thủ theo pháp luật tại phiên tòa, theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn xin vắng mặt, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Bị đơn vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.
Về yêu cầu khởi kiện:
Về hôn nhân: Xét chị Lê Thị Kim N và anh Lương Văn L là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng chị Lê Thị Kim N và anh Lương Văn L bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Xét anh, chị không còn đời sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét cuộc sống gia đình giữa chị Lê Thị Kim N và anh Lương Văn L không hạnh phúc, anh, chị không dung hòa được tình cảm vợ chồng, không hàn gắn được hạnh phúc gia đình. Chị Lê Thị Kim N không còn mong muốn cùng anh Lương Văn L xây dựng một gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.
Xét yêu cầu của chị Lê Thị Kim N xin ly hôn với anh Lương Văn L là có căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 2; Điều 19; khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Lê Thị Kim N, cho chị Lê Thị Kim N được ly hôn với anh Lương Văn L.
Về con chung: cháu Lương Hồng Ngọc, sinh ngày 05/5/2017, chị Lê Thị Kim Ngân yêu cầu được nuôi cháu Lương Hồng Ngọc. Cháu Lương Hồng Ngọc hiện do chị Lê Thị Kim Ngân đang nuôi dưỡng và có nguyện vọng xin được ở với mẹ.
Xét thấy hiện cháu Lương Hồng N có cuộc sống ổn định nên việc chị Lê Thị Kim N yêu cầu giao cháu N cho chị nuôi dưỡng là có căn cứ nên được chấp nhận. Anh L chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Anh L có quyền tới lui trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Về quan hệ tài sản: không tranh chấp nên hội đồng xét xử không đặt ra
giải quyết.
Về án phí: Chị Lê Thị Kim N phải chịu theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 2; Điều 19; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 21 và Điều 147; khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 227, Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị Kim N được ly hôn với anh Lương Văn L
2. Về con chung: Giao cháu Lương Hồng N, sinh ngày 05/5/2017 cho chị Lê Thị Kim N nuôi dưỡng, anh Lương Văn L chưa phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về quan hệ tài sản (tài sản chung, nợ chung): không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị Kim N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm; được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng chị đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số No 0000338 ngày 18/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Tân (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 – Vĩnh Long), chị Lê Thị Kim N không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5.Án xử công khai nguyên đơn xin vắng mặt, vắng mặt bị đơn. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản ản trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Vĩnh Long; -VKSND KV3; -Chi cục THADS KV3; -Các đương sự: -Lưu VP, HS THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trƣơng Văn Ánh Lê Minh Thƣ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Ánh Dƣơng Nguyễn Ánh Dƣơng |