vanban.org

Bản án 39/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H.

Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Lê Thị H và anh Trương Văn M là vợ chồng. Về con chung: Có 02 người con chung là Trương Minh D, sinh ngày 26/02/1991 và Trương Ngọc L, sinh ngày 21/9/1997. Hiện nay, 02 người con chung là Trương Minh D, Trương Ngọc L đã trưởng thành, sức khoẻ bình thường, nê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Hường ly hôn với Trương Văn Minh"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3-GIA LAI
TỈNH GIA LAI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2025/HNGĐ-ST
Ngày 30-9-2025
V/v không công nhận vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-GIA LAI, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Khương;

2. Bà Trần Thị Bích Thuỷ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hữu Xuân Lộc là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Hồ Thái Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 148/2025/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 24/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm: 1972.

Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (Nay là Thôn T, xã P, tỉnh Gia Lai).

2. Bị đơn: Anh Trương Văn M, sinh năm: 1968.

Địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (Nay là Thôn T, xã P, tỉnh Gia Lai.

(Chị Lê Thị H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Trương Văn M vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 5 năm 2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:

+ Về hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Trương Văn M tự nguyện tìm hiểu, được gia đình hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới theo phong tục ở địa phương và đi đến chung sống với nhau như vợ chồng vào ngày 18 tháng 4 năm 1990, nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Trong quá trình chung sống đến đầu năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn của vợ chồng là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong công việc, cuộc sống; anh M sống thiếu trách nhiệm với gia đình; chị H và anh M không còn chung sống với nhau từ tháng 3/2016 cho đến nay. Chị Lê Thị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Trương Văn M.

+ Về con chung: Trong thời gian chung sống như vợ chồng, giữa chị Lê Thị H và anh Trương Văn M có 02 người con chung là Trương Minh D, sinh ngày 26/02/1991 và Trương Ngọc L, sinh ngày 21/9/1997. Hiện nay, 02 người con chung đã trưởng thành, sức khoẻ bình thường nên ly hôn không yêu cầu Toà án giải quyết.

+ Về tài sản chung: Trong thời gian chung sống như vợ chồng, chị H và anh M có tạo lập tài sản chung. Tuy nhiên, ly hôn chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Trương Văn M: Anh Trương Văn M có nơi đăng ký thường trú tại thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (nay là thôn T, xã P, tỉnh Gia Lai). Tòa án tiến hành cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án, nhưng anh M không có văn bản trình bày ý kiến về việc Tòa án thụ lý vụ kiện gửi đến Tòa án; cũng không đến Tòa án để trình bày ý kiến, đối chất và hoà giải.

- Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Lê Thị H vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Tại đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt nguyên đơn chị hường giữ nguyên ý kiến và yêu cầu nêu trên. Bị đơn anh Trương Văn M vắng mặt không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đối với nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn thực hiện không đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp “không công nhận vợ chồng” và bị đơn cư trú tại thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (Nay là thôn T, xã P, tỉnh Gia Lai) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định (Nay là Toà án nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai) theo quy định của Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai về việc giải quyết vụ án:

++ Về hôn nhân: Căn cứ vào các Điều 9, 14, 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Tuyên bố chị Lê Thị H và anh Trương Văn M không phải là vợ chồng.

++ Về con chung: Có 02 người con chung là Trương Minh D, sinh ngày 26/02/1991 và Trương Ngọc L, sinh ngày 21/9/1997, đã trưởng thành, sức khoẻ bình thường nên không xem xét

++ Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa giải quyết, đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án không làm việc được với bị đơn nên không có căn cứ để xác định tài sản chung, nợ chung nên không có cơ sở để xem xét giải quyết, khi đương sự có yêu cầu sẽ xem xét giải quyết trong một vụ án khác.

+ Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc chị Lê Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về tố tụng: Chị Lê Thị H khởi kiện yêu cầu “Ly hôn”. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị H đều xác định là vợ chồng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “không công nhận vợ chồng”; bị đơn cư trú tại thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (Nay là thôn T, xã P, tỉnh Gia Lai). Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tình B (Nay là Toà án nhân dân khu vực 3-Gia Lai, tỉnh Gia Lai).

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Lê Thị H vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt; bị đơn anh Trương Văn M đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn chị Lê Thị H và bị đơn anh Trương Văn M.

Về nội dung vụ kiện:

Về hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Trương Văn M tự nguyện tìm hiểu, được gia đình hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới theo phong tục ở địa phương và đi đến chung sống như vợ chồng vào ngày 18/4/1990 nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Như vậy, việc kết hôn của chị H và anh M đã không tuân thủ theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên không có giá trị về mặt pháp lý. Chị Lê Thị H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trương Văn M.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án cho anh M, nhưng anh M không có văn bản trình bày ý kiến đối với việc Tòa án thụ lý vụ án gửi đến Tòa án; không đến Tòa án để trình bày ý kiến, đối chất, hoà giải và tại phiên tòa anh M vắng mặt. Điều này cho thấy, anh M đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét lời trình bày của chị H phù hợp với Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số: 76/2025/UBND-XNTTHN ngày 30/5/2025 của Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (nay là Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Gia Lai) cấp cho chị Lê Thị H (bản chính). Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận chị Lê Thị H và anh Trương Văn M là vợ chồng là phù hợp với quy định tại Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Trong thời gian chung sống như vợ chồng thì chị Lê Thị H và anh Trương Văn M có 02 người con chung là Trương Minh D, sinh ngày 26/02/1991 và Trương Ngọc L, sinh ngày 21/9/1997. Lời trình bày của chị H phù hợp với Giấy khai sinh của Trương Minh D, sinh ngày 26/02/1991 (bản sao) và Giấy khai sinh của Trương Ngọc L, sinh ngày 21/9/1997 (bản sao). Hiện nay, 02 người con chung là D, L đã trưởng thành, sức khoẻ bình thường, nên Hội đồng không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Lê Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, do không làm việc được với anh Trương Văn M nên vấn đề này sẽ được xem xét trong một vụ án khác, nếu các bên đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Căn cứ điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật, nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí , lệ phí Toà án số : 0004512 ngày 30/5/2025 của Chi cu ̣c Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ , tỉnh Bình Định (Nay là Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai). Chị Lê Thị H đã nộp xong.

Về đề nghị của Kiểm sát viên hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; các điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 9, 14 và khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H.

1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Lê Thị H và anh Trương Văn M là vợ chồng.

2. Về con chung: Có 02 người con chung là Trương Minh D, sinh ngày 26/02/1991 và Trương Ngọc L, sinh ngày 21/9/1997. Hiện nay, 02 người con chung là Trương Minh D, Trương Ngọc L đã trưởng thành, sức khoẻ bình thường, nên Hội đồng không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị Lê Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, do không làm việc được với anh Trương Văn M nên vấn đề này sẽ được xem xét trong một vụ án khác, nếu các bên đương sự có yêu cầu.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị H đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí , lệ phí Toà án số : 0004512 ngày 30/5/2025 của Chi cu ̣c Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định (Nay là Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai). Chị Lê Thị H đã nộp xong.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị H và anh Trương Văn M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ