- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà N với ông S"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Sơn Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 3 - 2025 V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thái Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Phượng.
Ông Nguyễn Hồng Được.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Dương Hồng Thủy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 186/2024/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Sơn Thị N, sinh năm 1990;
Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (có mặt);
- Bị đơn: Ông Kim S, sinh năm 1990;
Nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/9/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Sơn Thị N trình bày:
Vào năm 2009, bà Sơn Thị N, ông Kim S tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống và đến ngày 27/9/2012 mới tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn và được UBND xã B cấp giấy chứng nhận kết hôn số 165 ngày 27/9/2012. Vợ chồng bà Sơn Thị N, ông Kim S chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn do cãi vả và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên không hàn gắn được. Bà Sơn Thị N xác định vợ chồng có 02 con chung tên: Kim Thị L, sinh ngày 06/4/2010 và Kim Thị Bích A, sinh ngày 02/10/2011 hiện do bà Sơn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung. Nay bà Sơn Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân yêu cầu được ly hôn với ông Kim S.
- Về con chung: bà Sơn Thị N yêu cầu được nuôi dưỡng hai con tên: Kim Thị L, sinh ngày 06/4/2010 và Kim Thị Bích A, sinh ngày 02/10/2011 đến khi thành niên và không yêu cầu ông Kim S phải cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung và nợ chung xác định không có và không yêu cầu giải quyết.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện bà Sơn Thị N đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ gồm có:
+ Căn cước công dân tên Sơn Thị N (photo đối chiếu);
+ Giấy khai sinh tên Kim Thị L, sinh ngày 06/4/2010 và Kim Thị Bích A, sinh ngày 02/10/2011 (photo đối chiếu);
+ Giấy chứng nhận kết hôn (Bản sao trích lục);
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Kim S thường xuyên không có mặt tại nơi cư trú nên thủ tục cấp tống đạt được thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 177 và Điều 179 của của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên ông Kim S không có văn bản trình bày ý kiến cũng như không đến Tòa án theo giấy triệu tập.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh về hoàn cảnh gia đinh, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ chồng, con trong vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay,
* Nguyên đơn bà Sơn Thị N vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Kim S; Yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Kim Thị L, sinh ngày 06/4/2010 và Kim Thị Bích A, sinh ngày 02/10/2011 đến khi thành niên và không yêu cầu Kim S phải cấp dưỡng cho con; Bà Sơn Thị N xác định không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà Sơn Thị N xác định tại phiên tòa hôm nay không còn tình cảm gì với ông Kim S nên không thể hàn gắn mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ.
* Bị đơn ông Kim S vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nhưng bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Sơn Thị N đối với ông Kim S.
Giao con chung tên Kim Thị L, sinh ngày 06/4/2010 và Kim Thị Bích A, sinh ngày 02/10/2011 cho bà Sơn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên; Ông Kim S không cấp dưỡng nuôi con do bà Sơn Thị N không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét.
Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nhưng thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 11/9/2024, bà Sơn Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Kim S có nơi cư trú tại Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Long Phú thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về xét xử vắng mặt đối với đương sự: Bị đơn ông Kim S đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông Kim S.
Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Sơn Thị N về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con.
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2009 bà Sơn Thị N cùng với ông Kim S có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện C theo giấy chứng nhận kết hôn số 165/2012 ngày 27/9/2012. Theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Sơn Thị N và ông Kim S là hợp pháp.
Theo trình bày của bà Sơn Thị N: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 02 con chung tên Kim Thị L, sinh ngày 06/4/2010 và Kim Thị Bích A, sinh ngày 02/10/2011 hiện đang do bà Sơn Thị N là người trực tiếp nuôi dưỡng. Đến năm 2014 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn kéo dài từ đó cho đến nay. Hiện tại vợ chồng không tạo lập được tài sản chung và không có nợ chung.
Về xác định nguyên nhân dẫn đến phát sinh tranh chấp, mâu thuẫn dẫn đến sống ly thân: Ông Kim S không còn quan tâm đến nhau đến bà Sơn Thị N và hai người con. Bỏ mặc nhau muốn sống ra sao thì sống. Từ phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy: ông Kim S là người chồng đã bỏ mặc vợ và hai con không quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm vợ chồng là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của người chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để vợ chồng cho bà Sơn Thị N, ông Kim S hàn gắn tình cảm. Đến nay ông Kim S vẫn chưa có động thái nào để hàn gắn được tình cảm cũng như bà Sơn Thị N vẫn cương quyết ly hôn. Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Sơn Thị N cho bà Sơn Thị N được ly hôn với cho ông Kim S.
Về con chung: Bà Sơn Thị N xác định thời gian chung sống, vợ chồng con chung tên Kim Thị L, sinh ngày 06/4/2010 và Kim Thị Bích A, sinh ngày 02/10/2011. Hiện nay con chung tên Kim Thị L, sinh ngày 06/4/2010 và Kim Thị Bích A, sinh ngày 02/10/2011 do bà Sơn Thị N đang trực tiếp nuôi dưỡng. Nội dung này cũng phù hợp với Giấy khai sinh số 220/2013, quyển số 02/2013 đăng ký ngày 19/8/2013 do UBND xã B cấp mang tên Kim Thị L, sinh ngày 06/4/2010 và Giấy khai sinh số 223/2013, quyển số 02/2013 đăng ký ngày 19/8/2013 do UBND xã B cấp mang tên Kim Thị Bích A, sinh ngày 02/10/2011.
Xét ý kiến của bà Sơn Thị N về việc bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Kim Thị L, sinh ngày 06/4/2010 và Kim Thị Bích A, sinh ngày 02/10/2011. Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay bà Sơn Thị N có nguồn thu nhập ổn định hằng tháng. Hội đồng xét xử thấy rằng hiện tại con chung đang do bà Sơn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, nguyện vọng của con chung được sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn và bà Sơn Thị N cũng có nguyện vọng được nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện nay bà Sơn Thị N xác định có nguồn thu nhập mỗi tháng nên đảm bảo cho việc nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Bên cạnh đó ông Kim S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về tài sản chung: Bà Sơn Thị N xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Kim S không có ý kiến hoặc đưa ra yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà Sơn Thị N xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do đó trong vụ án ly hôn nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy bà Sơn Thị N chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án ly hôn là 300.000 đồng. Tuy nhiên bà Sơn Thị N thuộc trường hợp người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, có yêu cầu miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án..
Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bà Sơn Thị N có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Kim S được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Phú phát biểu tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nội dung vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 3 Điều 235, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Sơn Thị N.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Sơn Thị N được ly hôn với ông Kim S.
2/ Về con chung: Giao con tên Kim Thị L, sinh ngày 06/4/2010 và Kim Thị Bích A, sinh ngày 02/10/2011 cho bà Sơn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên. Ông Kim S không phải cấp dưỡng cho con. Ông Kim S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3/ Về tài sản chung: Không đặt ra xem xét.
4/ Về nợ chung: Bà Sơn Thị N, ông Kim S xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
5/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Sơn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Tuy nhiên bà Sơn Thị N thuộc trường hợp là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, có yêu cầu miễn án phí nên được miễn án phí. Ông Kim S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
6/ Về quyền kháng cáo: Bà Sơn Thị N có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án và ông Kim S được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.TTr, KT&THA); - VKSND huyện Long Phú; - Chi cục THADS huyện Long Phú; - Các đương sự; - UBND xã B; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trương Thái Ngọc |