- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị H Sa Khip A với anh Nguyễn Quốc T"
- Tòa quyết gì? Caên cöù Ñieàu 26 Luaät thi haønh aùn daân söï;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2025/HNGĐ - ST Ngày: 14-5-2025 V/v: ly hôn; tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lài Thị Thu Hà;
2. Bà Nguyễn Thị Thùy.
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Rung K’Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lịch – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 97/2025/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 về việc: “Ly hôn; tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST– HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị H Sa Khip A, sinh năm 1998.
Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1990.
Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn xin ly hôn, nguyên đơn chị H Sa Khip A trình bày thì:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Quốc T chung sống với nhau năm 2020 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng ngày 31/5/2022. Vợ chồng chị chung sống thời gian đầu hòa thuận, hạnh phúc. Đến đầu năm 2023 thì vợ chồng chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng chị bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra xô xát nhau. Anh T không chung thủy với chị. Vợ chồng chị đã nhiều lần hàn gắn tình cảm, cho nhau cơ hội sửa đổi nhưng mâu thuẫn vợ chồng không được cải thiện. Vợ chồng chị đã sống ly thân nhau đến nay được 02 năm. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1.
Về con chung: vợ chồng chị có 01 con chung tên là Nguyễn Quốc Nhật H, sinh ngày 13/3/2022. Khi ly hôn, chị yêu cầu Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị yêu cầu anh Nguyễn Quốc T phải cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đ/tháng.
Về tài sản chung: vợ chồng chị không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: vợ chồng chị không có nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, chị H Sa Khip A không trình bày gì thêm.
Bị đơn anh Nguyễn Quốc T trình bày tại bản tự khai thì:
Về quan hệ hôn nhân: chị H Sa Khip A và anh kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Quá trình chung sống, vợ chồng anh bất đồng quan điểm sống, gia đình hai bên đã nhiều lần hòa giải nhưng không được. Hiện anh chị đã sống ly thân từ năm 2023. Chị H Sa Khip A đã về nhà bố mẹ sinh sống. Nay chị H Sa K Ayun làm đơn ly hôn thì anh đồng ý ky hôn.
Về con chung: vợ chồng anh có 01 con chung tên là Nguyễn Quốc Nhật H, sinh ngày 13/3/2022. Khi ly hôn, anh đồng ý giao con chung cho chị H Sa Khip Ayun trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đ/tháng.
Về tài sản chung: anh chị không có tài sản chung.
Về nợ chung: anh chị không có nợ chung.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp hòa giải nhưng vắng mặt một bên đương sự nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa, các bên đương sự vắng mặt nên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn ly hôn của chị H Sa Khip A, xử cho chị H Sa Khip Ayun được ly hôn với anh Nguyễn Quốc T. Về con chung, đề nghị giao con chung là Nguyễn Quốc Nhật H, sinh ngày 13/3/2022 cho chị H Sa Khip Ayun có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Quốc T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đ/tháng. Về tài sản chung, đương sự xác định không có tài sản chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Về nợ chung, đương sự xác định không có nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: buộc chị H Sa Khip A, anh Nguyễn Quốc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung là phù hợp.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bị đơn anh Nguyễn Quốc T có nơi cư trú tại: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng nên theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Quốc T và chị H Sa Khip A xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 31/5/2022 trên cơ sở tự nguyện nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của chị H Sa Khip A, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Qua xác minh thì nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa chị H Sa Khip A và anh T là do anh T không chịu khó làm ăn, chơi bài bạc. Đồng thời, trong lời khai, cả anh T và chị H Sa Khip Ayun đều xác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa vợ chồng anh, chị là do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát nhau, nay chị H Sa K Ayun giữ nguyên yêu cầu được ly hôn, còn anh T cũng đồng ý ly hôn. Cả hai đã sống ly thân nhau từ năm 2023 đến nay. Do đó, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân của anh, chị cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị H Sa Khip A, xử cho chị H Sa Khip Ayun được ly hôn với anh T là phù hợp.
Về con chung: Anh T và chị H Sa Khip Ayun xác định vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Quốc Nhật H, sinh ngày 13/3/2022. Khi ly hôn, chị H Sa K Ayun có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh T cũng đồng ý giao con cho chị H Sa Khip Ayun nuôi dưỡng, giáo dục. Xét thấy, từ khi anh T và chị H Sa Khip Ayun sống ly thân đến nay, con chung vẫn do chị H Sa Khip Ayun là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên cần giao con chung là Nguyễn Quốc Nhật H, sinh ngày 13/3/2022 cho chị H Sa Khip Ayun có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con, chị H Sa Khip Ayun yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đ/tháng. Anh T cũng tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đ/tháng. Đây là sự tự nguyện của đương sự, không trái quy định của pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận là phù hợp.
Về tài sản chung: Anh T và chị H Sa Khip Ayun xác định không có tài sản chung và thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
Về nợ chung: Anh T và chị H Sa Khip Ayun xác định không có nợ chung và thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Buộc chị H Sa Khip A phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn.
Buộc anh T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 53, 56, 57, 81, 82, 83, 84, 110 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Caên cöù Ñieàu 26 Luaät thi haønh aùn daân söï;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị H Sa Khip A, xử cho chị H Sa Khip Ayun được ly hôn với anh Nguyễn Quốc T.
2. Giao con chung tên là Nguyễn Quốc Nhật H, sinh ngày 13/3/2022 cho chị H Sa Khip Ayun có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Quốc T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là 3.000.000đ/tháng (Ba triệu đồng/tháng).
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Buộc chị H Sa K Ayun phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005261 ngày 17/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Chị H Sa Khip A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc anh Nguyễn Quốc T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (02); - VKSND huyện Lâm Hà; - Chi cục THADS huyện Lâm Hà; - Các đương sự; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ, BP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hạnh |