vanban.org

Bản án 39/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình Tuyên án 02/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Công T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Công T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 22/12/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Vũ Công T phạm tội Tàng trữ Trái phép Chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Công T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲNH PHỤ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HS-ST
Ngày: 02/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Doanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Diễn;

2. Bà Phạm Thị Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hướng - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Vũ Công T, sinh ngày 09/4/1973 tại huyện Q, tỉnh Thái Bình

Nơi thường trú: thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Nơi ở hiện nay: thôn Q, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vũ Công R, sinh năm 1936 và bà: Vũ Thị T1, sinh năm 1936; vợ: Đoàn Thị H, sinh năm 1974; con: Có 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 322/2009/HSST ngày 25/9/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, Bản án hình sự phúc thẩm số 370/2009/HS-PT ngày 04/12/2009, Tòa án nhân dân tỉnh tỉnh Đăk Lăk, giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 322/2009/HS-ST ngày 25/9/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/6/2015, thi hành xong tiền phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm, phúc thẩm ngày 16/8/2016.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2023 đến ngày 28/12/2023 chuyển tạm giam đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

(Bị cáo trích xuất có mặt tại phiên toà).

- Người chứng kiến:

+ Anh Phạm Văn H1, sinh năm 1989.

Nơi cư trú: thôn N, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

+ Ông Nguyễn Bá P, sinh năm 1972.

Nơi cư trú: thôn B, xã Q, huyện Q,tỉnh Thái Bình.

( Anh H1, ông P đều vắng mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ ngày 22/12/2023, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an tỉnh T phối hợp với Công an xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình làm nhiệm vụ tại khu vực xã Q, huyện Q thì nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc có một người đàn ông khoảng ngoài 50 tuổi, mặc áo khoác màu nâu, đang đi bộ trên đường ĐT452 đoạn thuộc thôn Đ, xã Q, có biểu hiện liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã tiến hành xác minh thông tin và yêu cầu người đàn ông nêu trên dừng lại để kiểm tra. Trước sự chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương và anh Phạm Văn H1, cùng anh Nguyễn Bá P, người đàn ông khai tên Vũ Công T, sinh năm 1973, đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn M, xã Q, huyện Q; nơi ở hiện tại: thôn Q, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. Sau khi được nghe giải thích quyền và nghĩa vụ, T đã tự giác lấy từ túi áo khoác ngoài bên trái đang mặc giao nộp cho tổ công tác 03 gói giấy trắng có dòng kẻ màu xanh chứa chất bột màu trắng dạng cục. T khai nhận đó là 03 gói Heroine của T để sử dụng cho bản thân (qua giám định là Heroine có khối lượng 0,3071 gam). Tiến hành kiểm tra người Thực tổ công tác thu giữ tại túi áo khoác ngoài bên trái T đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO vỏ màu xanh đã cũ, kiểm tra điện thoại không phát hiện dữ liệu liên quan. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng để tiếp tục điều tra, làm rõ.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ C thực tại thôn Q, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, không phát hiện, thu giữ gì.

Quá trình điều tra, bị cáo Vũ Công T khai nhận: T nghiện Heroine từ năm 2008. Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 22/12/2023, T đi xe buýt lên khu vực C, phường Q, thành phố T mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không rõ tên, địa chỉ, C gói H với giá 300.000 đồng rồi giấu vào túi áo khoác ngoài bên trái phía trước và đi xe buýt về Q. Khoảng 16 giờ cùng ngày, khi T đang đi bộ trên đường ĐT452 đoạn Cầu Dầu thuộc khu vực thôn Đ, xã Q, huyện Q, trong túi áo khoác ngoài đang cất giấu 03 gói ma túy nêu trên thì bị tổ công tác Công an tỉnh T phát hiện, bắt quả tang.

Cáo trạng số 34/CT-VKSQP ngày 22/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố Vũ Công T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Vũ Công T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trong bản Cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vũ Công T và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo Vũ C Thực tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra có trong hồ sơ vụ án (Bút lục 120 - 137); phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Các biên bản quản lý đồ vật, tài liệu; các biên bản niêm phong vật chứng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T lập hồi 16 giờ 30 phút, 17 giờ 30 phút, 17 giờ 35 phút cùng ngày 22/12/2023 tại trụ sở Công an xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình (bút lục số 01 – 02; 9-10); Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định do Cơ quan Cảnh sát điều tra tỉnh Thái Bình lập hồi 21 giờ ngày 22/12/2023 tại Phòng K Công an tỉnh T (bút lục số 12); Bản Kết luận giám định số 1869/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng K, Công an tỉnh T, kết luận: “Mẫu vật trong phong bì gửi giám định là ma túy; loại Heroin (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; có khối lượng là 0,3071 gam (không phẩy ba nghìn không trăm bảy mươi mốt gam). Heroine STT: 9, Danh mục IA, phụ lục kèm theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.” (bút lục số 13); Bản tường trình và biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến anh Phạm Văn H1 cùng anh Nguyễn Bá P (bút lục số 116-117; 118-119); Cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 16 giờ ngày 22/12/2023, tại đường thuộc khu vực thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, bị cáo Vũ Công T đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 03 gói Heroin, có khối lượng 0,3071 gam (không phẩy ba nghìn không trăm bảy mươi mốt gam) với mục đích để sử dụng cho bản thân, bị Công an tỉnh T phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248,250,251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR - 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

……

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, bởi hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận không tốt trên địa bàn nơi xảy ra vụ án. Tệ nạn ma tuý hiện nay đang là hiểm hoạ của toàn xã hội, không những gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã từng bị xử phạt tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy”, nhận thức rất rõ tác hại của ma túy song vẫn thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân, thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.

Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu năm 2009 đã bị xử phạt tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận định nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật và xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán để kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Chất ma túy thu giữ của bị cáo Vũ Công T hoàn trả lại sau giám định Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO vỏ màu xanh đã cũ, 01 xác sim điện thoại không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

Về nguồn gốc số Heroine, bị cáo khai mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi, không biết tên, địa chỉ tại khu vực C, phường Q, thành phố T nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để điều tra, xử lý.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Công T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Công T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Vũ Công T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 22/12/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ 0,2436 gam (Không phẩy hai nghìn bốn trăm ba mươi sáu gam) Hêrôin hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong phong bì niêm phong số 1869/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh T.

Trả lại bị cáo Vũ Công T 01 điện thoại di động nhãn hiệu POCO vỏ màu xanh đã cũ, 01 xác sim điện thoại.

(Các vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 47 ngày 25/3/2024 giữa Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Vũ Công T phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Vũ Công T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (02/5/2024)./. Nơi nhận:

Cỡ chữ