- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đình T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Vũ Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2024/HS-ST Ngày 01-7-2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƢƠNG
- B phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Lê Thanh Nam
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Mạnh Toàn và ông Vũ Đ Đông
- Thư ký phiên tòa: ông Đặng Lâm Quốc Huy - Thƣ ký viên Toà án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: ông Bùi Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
- Người tiến hành tố tụng tại điểm cầu B phần:
1. Ông Nguyễn Duy Hải - Thẩm phán.
2. Bà Ngô Thị Quế - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu T tâm: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng và điểm cầu B phần: Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 01/TB-TA ngày 07 tháng 6 năm 2024; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 02/TB-TA ngày 18 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Đình T, sinh năm 1988 tại xã VH, huyện BG, tỉnh Hải Dƣơng; nơi cƣ tr : thôn PV, xã VH, huyện BG, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Minh T1 và bà Nguyễn Thị T2; có vợ là Đinh Thị T3 (đã chết) và 01 con;
Tiền án: Bản án số 21/2022/HSST ngày 13/4/2022, Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt 14 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 25/02/2023, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Bản án số 70/2015/HSST ngày 02/12/2015, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Hào (nay là thị xã Mỹ Hào), tỉnh Hƣng Yên xử phạt 03 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 10/4/2018, bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án.
- Ngày 09/12/2020, Công an huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 10/12/2020 bị cáo chấp hành xong;
- Ngày 25/4/2021, Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh Hồng, huyện Bình Giang quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời hạn 3 tháng. Ngày 27/7/2021 bị cáo chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/02/2024 đến ngày 06/3/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: ông Phạm Văn Điều - Trợ gi p viên pháp lý thuộc T tâm Trợ gi p pháp lý nhà nƣớc tỉnh Hải Dƣơng. Có mặt.
- Người ch ng kiến: Anh Trần Hải Đ, anh Phạm Văn A, anh Mùi Văn B (đều vắng mặt).
- Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu B phần:
1. Ông Vũ Đức Doanh - Cán bộ Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Giang;
2. Ông Đỗ Danh Huấn - Cán bộ Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Giang;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vũ Đình T và Trần Hải Đ là bạn bè quen biết xã hội. Khoảng giữa tháng 02/2024, Đ về nhà ông nội ở khu 4, thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng chơi và biết T có ma túy.
Khoảng 21 giờ ngày 28/02/2024, Đ Đ nhập ứng dụng Zalo số điện thoại của mình gọi đến tài khoản Đ ký số điện thoại của T hỏi mua 500.000 đồng ma t y đá. T đồng ý và hẹn Đ đến khu vực cầu Sặt thuộc thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang để mua bán. Sau đó, T thuê xe taxi của anh Phạm Văn A chở từ nhà ở thôn Phụng Viện, xã Vĩnh Hồng, huyện Bình Giang đến xã Tân Phúc, huyện Ân Thi, tỉnh Hƣng Yên để mua ma tuý về bán cho Đ (anh A không biết việc T thuê xe chở đi mua ma tuý). Khi đi trên đƣờng quốc lộ 38 thuộc địa phận xã Tân Phúc, huyện Ân Thi, T bảo anh A dừng xe, T xuống đi bộ một đoạn gặp và mua của nam thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch 1 t i ma tuý đá với số tiền 500.000 đồng. T quay lại lên xe ngồi ghế phụ rồi bảo anh A chở về thị trấn Kẻ Sặt, huyện Bình Giang. Trên đƣờng đi, T san 1 phần số ma tuý vừa mua đƣợc vào t i nilon đã chuẩn bị sẵn, 1 t i để bán cho Đ, túi còn lại để bán cho ngƣời khác có nhu cầu. Khoảng 22 giờ cùng ngày, khi đi về đến khu vực trƣớc cửa nhà hàng Cá Sông thuộc thôn Vĩnh Lại, xã Vĩnh Hƣng, huyện Bình Giang, T gọi điện cho Đ ra lấy ma tuý. Lúc này, Đ đang ở nhà chơi cùng anh Mùi Văn B nên Đ rủ đi cùng nhƣng không nói cho anh B biết đi mua ma tuý. Khi gặp T, Đ mở cửa phía sau bên phải xe taxi ngồi vào hàng ghế sau đƣa cho T 300.000 đồng và bảo nợ lại 200.000 đồng trả sau, T đồng ý cầm tiền đồng thời đƣa cho Đ túi ma tuý rồi bảo anh A chở về nhà. Đ cất giấu túi ma tuý mua của T ở túi quần trƣớc bên phải rồi cùng anh B đi về nhà ngủ. Khoảng 10 giờ ngày 29/02/2024, Đ rủ anh B đi bộ ra khu đô thị Toàn Gia 2, thị trấn Kẻ Sặt chơi. Tại đây, Đ bảo anh B đứng đợi ở ngoài đƣờng, Đ đi bộ vào khu vực vắng ngƣời ở phía trong khu đô thị Toàn Gia bỏ túi ma túy đã mua của T và bộ dụng cụ chuẩn bị sẵn ra sử dụng, sau khi sử dụng xong ma tuý, Đ vứt bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đi, còn vỏ t i nilon đựng ma tuý cất giấu vào túi quần phía trƣớc bên phải rồi đi ra phía ngoài đƣờng chỗ anh B đợi . Hồi 10 giờ 25 phút cùng ngày, Đ đang đi bộ ra phía ngoài thì bị Tổ công tác của Công an huyện Bình Giang phát hiện, thu giữ trên ngƣời 1 vỏ t i nilon kích thƣớc (2 x 1,5)cm bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng, Đ khai nhận đó là vỏ t i đựng ma tuý mua của T vào ngày 28/02/2024.
Căn cứ lời khai của Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang triệu tập Vũ Đình T đến trụ sở làm việc. Hồi 12 giờ ngày 29/02/2024, trong khi làm việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra phát hiện T cất giấu ở phía trong ốp điện thoại của mình 1 t i nilon kích thƣớc (5,8 x 4)cm, bên trong có 1 t i nilon kích thƣớc (2 x 1,5)cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, T khai nhận đó là túi ma t y đã mua ngày 28/02/2024 cất giấu để bán kiếm lời, T tự nguyện giao nộp điện thoại nhãn hiệu OPPO A785G, lắp sim số 0374.738.683 phục vụ điều tra. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang đối với T. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của T, Cơ quan điều tra thu giữ 2 ống hút, 1 nắp chai nhựa, 1 vỏ túi nilon.
Kết luận giám định số 182/KL-KTHS ngày 02/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bám dính bên trong túi nilon thu giữ của Trần Hải Đ gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, lƣợng mẫu bám dính rất nhỏ không xác định đƣợc khối lƣợng.
Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong túi nilon giữ của Vũ Đình T gửi đến giám định có khối lƣợng 0,132g là ma túy, loại Methamphetamine.
Hoàn lại đối tƣợng giám định: 0,105g ma túy, loại Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói mẫu đƣợc đựng trong niêm phong số 182/KL-KTHS.
Methamphetamine - STT 247, Mục IIC, Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 23-5-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo Vũ Đình T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
- Bị cáo B khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ bản Cáo trạng đã nêu là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm đƣợc trở về đoàn tụ với gia đình.
- Ngƣời bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà vị đại diện Viện kiểm sát đề xuất áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chiếu cố đến hoàn cảnh của bị cáo thuộc hộ nghèo, vợ mất sớm, con nhỏ … cho bị cáo đƣợc hƣởng mức án từ 27 đến 30 tháng tù để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo B công dân có ích cho xã hội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma t y”. Về hình phạt chính: áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 33 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng. Về vật chứng: áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: : 0,105g ma túy, loại Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói mẫu đƣợc đựng trong niêm phong số 182/KL-KTHS; 2 ống hút, 1 nắp chai nhựa, 1 vỏ t i nilon đựng trong phong bì niêm phong; Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nƣớc: 01 điện thoại OPPO A785G, lắp sim số 0374.738.683 thuộc quyền sở hữu của bị cáo Vũ Đình T; Tịch thu nộp ngân sách nhà nƣớc số tiền 300.000đ của bị cáo Vũ Đình T. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng, ngƣời bào chữa là hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ ngày 28/02/2024, tại khu vực cầu Sặt thuộc thôn Vĩnh Lại, xã Vĩnh Hƣng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dƣơng, Vũ Đình T có hành vi bán trái phép cho Trần Hải Đ 01 túi ma túy loại Methamphetamine với số tiền 500.000 đồng. Sau khi mua ma tuý, đến sáng ngày 29/02/2024 Đ mang đến khu đô thị Toàn Gia 2, thị trấn Kẻ Sặt sử dụng thì bị Tổ công tác Công an huyện Bình Giang phát hiện. Tiến hành triệu tập làm việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra phát hiện, bắt quả tang T cất giấu trái phép trên ngƣời 0,132g ma túy, loại Methamphetamine để bán kiếm lời. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nƣớc về quản lý chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh một số tội phạm khác nhƣng vì mục đích kiếm lời, bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu B tội "Mua bán trái phép chất ma túy", Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đ ng quy định pháp luật.
Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngoài bị xử phạt hành chính, xử lý hành chính, bị cáo còn 02 lần bị kết án và phải chấp hành hình phạt tù về tội mua bán trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án, chƣa đƣợc xóa án tích lại phạm tội do cố ý nên với lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng "tái phạm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo thuộc hộ nghèo, chƣa đƣợc hƣởng lợi từ hành vi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với đối tƣợng bán ma t y cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định đƣợc là ai, ở đâu; anh Phạm Văn A là lái xe taxi nhƣng không biết việc bị cáo đi mua ma tuý; anh Mùi Văn B đi cùng với Đ nhƣng không biết Đ mua ma tuý sử dụng nên không có căn cứ xử lý. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Hải Đ, ngày 19/4/2024, Công an huyện Bình Giang đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 0,105g ma túy loại Methamphetamine cùng toàn bộ túi nilon, vỏ phong bì niêm phong mẫu đƣợc đựng trong phong bì niêm phong số 182/KL-KTHS; 02 ống hút nhựa, 01 nắp chai nhựa màu trắng, 01 vỏ túi nilon màu trắng; là vật nhà nƣớc cấm lƣu hành và vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy;
Đối với 01 điện thoại OPPO A785G, lắp sim số 0374.738.683 thuộc quyền sở hữu của bị cáo, bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nƣớc.
Đối với số tiền 300.000đ bị cáo bán ma túy cho Trần Hải Đ, đây là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nƣớc.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nhƣng thuộc hộ nghèo nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: bị cáo Vũ Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Vũ Đình T 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29/02/2024.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 0,105g ma túy loại Methamphetamine cùng toàn bộ túi nilon, vỏ phong bì niêm phong mẫu đƣợc đựng trong phong bì niêm phong số 182/KL-KTHS; 02 ống hút nhựa, 01 nắp chai nhựa màu trắng, 01 vỏ túi nilon màu trắng;
Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nƣớc: 01 điện thoại OPPO A785G, lắp sim số 0374.738.683 thuộc quyền sở hữu của bị cáo Vũ Đình T;
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 11/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Giang).
Tịch thu nộp ngân sách nhà nƣớc số tiền 300.000đ của bị cáo Vũ Đình T.
4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vũ Đình T.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng; - Trại tạm giam CA tỉnh Hải Dƣơng; - VKSND huyện Bình Giang; - CQCSĐT - CA huyện Bình Giang; - CQ THAHS huyện Bình Giang; - CCTHADS huyện Bình Giang; - Bị cáo; - Lƣu HS; Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thanh Nam |