vanban.org

Bản án 39/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Trần Thị Ánh H đối với ông Huỳnh Văn V. Xử cho bà Trần Thị Ánh H được ly hôn đối với ông Huỳnh Văn V.

Về con chung: Bà H xác định các con chung đã trưởng thành nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về tài sản chung, về nợ chung: Bà H xác định bà H và ông V chung sống với nhau không có tạo lập tài sản chung và không nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Ánh Hồng- Huỳnh Văn Việt"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Trần Thị Ánh H đối với ông Huỳnh Văn V. Xử cho bà Trần Thị Ánh H được ly hôn đối với ông Huỳnh Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH LỢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:39/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31–05– 2024
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Lan Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hoài Tân

2. Bà Trần Thị Phương Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thúy Hằng, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Châu Ngọc Hạnh- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 31/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ánh H, sinh năm 1971 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu

- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn V, sinh năm 1966 (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Trần Thị Ánh H trình bày tại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 11 năm 2023 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án: Bà H và ông V xây dựng hôn nhân với nhau năm 1990, đến năm 2004 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C (nay là thị trấn C) theo giấy chứng nhận kết hôn số 115, quyền số 04, cấp ngày 14/6/2004.

Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng ý kiến, thường xuyên cự cãi, cuộc sống chung không hạnh phúc, ông V thường xuyên dùng bạo lực đối với bà H, có lần ông V đánh bà H gây thương tích nứt xương tay, đi bác sĩ điều trị. Tình trạng mâu thuẫn này ngày càng trầm trọng khoảng 10 năm nay. Bà H và ông V đã ly thân khoảng 09 năm nay. Hiện sống chung nhà nhưng không ngủ chung. Ông V ngày nào cũng uống rượu, không lo làm ăn, mỗi lần uống rượu về chửi bà H, ghen tuông bà H với người khác. Nay bà H không thể chịu đựng được nên bà H yêu cầu ly hôn với ông V.

Về con chung: Bà H và ông V có 03 người con chung

1. Huỳnh Thị B, sinh năm 1990 đã có gia đình

2. Huỳnh Thị B1, sinh năm 1991, đã có gia đình

3. Huỳnh Vũ P, sinh năm 1994, đã chết năm 2019.

Ngoài ra không còn người con nào khác. Hiện các con đã trưởng thành nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài sản chung: Không có. Lý do làm nhiêu chi xài hết. Khi bà H và ông V ly thân, bà H làm tích lũy cất được căn nhà mái thiết, xây 1 phần gạch, nền gạch men. Ông V không có đóng góp phần tài sản này. Ngoài ra không còn tài sản nào khác. Do không có tài sản chung nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Huỳnh Văn V không có lời khai trong hồ sơ. Lý do, Tòa án nhiều lần triệu tập ông Huỳnh Văn V đến Tòa án làm việc nhưng ông Huỳnh Văn V không đến; Tòa án đến nhà lấy lời khai nhưng ông Huỳnh Văn V không có nhà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu phát biểu việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Từ khi thụ lý cho đến phiên tòa xét xử sơ thẩm, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Ánh H đối với ông Huỳnh Văn V. Về con chung các con đã trưởng thành và bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Tài sản chung, nợ chung không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bà Trần Thị Ánh H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình 300.000 đồng. Bà Trần Thị Ánh H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0003899 ngày 19/02/2024 được chuyển thu án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng: Ngày 22 tháng 11 năm 2023 bà Trần Thị Ánh H nộp đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn V. Ông Huỳnh Văn V có địa chỉ đăng ký thường trú tại ấp T, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. bà Trần Thị Ánh H có đơn xin xét xử vắng mặt, riêng ông Huỳnh Văn V được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt bà H và ông V theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về hôn nhân: Bà Trần Thị Ánh H và ông Huỳnh Văn V tự nguyện chung sống vào năm năm 1990, đến năm 2004 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C (nay là thị trấn C) theo giấy chứng nhận kết hôn số 115, quyền số 04, do Ủy ban nhân dân xã C cấp ngày 14/6/2004 nên hôn nhân giữa bà H và ồng V là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

. Bà H xác định trong thời gian chung sống, giữa bà H và ông V phát sinh nhiêu mâu thuẫn, bất đồng ý kiến, thường xuyên cự cãi, cuộc sống chung không hạnh phúc, ông V thường xuyên dùng bạo lực đối với bà H, có lần ông V đánh bà H gây thương tích nứt xương tay, đi bác sĩ điều trị. Tình trạng mâu thuẫn này ngày càng trầm trọng khoảng 10 năm nay. Bà H và ông V đã ly thân khoảng 09 năm nay. Nay bà H yêu cầu ly hôn với ông V. Phía ông V được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông V không đến Tòa án làm việc nên ông V không có lời khai trong hồ sơ. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai bà H phù hợp với lời khai ông Đoàn Văn Q là trưởng ấp T, thị trấn C, huyện V. Ông Q xác định, do nhà ông Q và nhà bà H, ông V gần nhau nên có nhiều lần ông Q chứng kiến cảnh bà H và ông V mâu thuẫn; ông V thường xuyên uống rượu và ghen bà H với người khác, có lần ông V đánh bà H gây thương tích, đốt đồ bà H; những lần như vậy bà H đều có báo với chính quyền địa phương. Riêng về tài sản chung, nợ chung của ông V và bà H thì ông Q không rõ. Các con chung của ông V và bà H đều trưởng thành.

Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân tồn tại bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện, vợ chồng phải biết yêu thương, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau xây dựng gia đình phát triển. Hôn nhân giữa bà H và ông V không còn hạnh phúc, quá trình chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn này đã trầm trọng, bà H và ông V đã ly thân gần 10 năm nay. Bà H không còn tình cảm với ông V, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà H yêu cầu được ly hôn với ông V là có căn cứ, phù hợp với quy định Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông V

. Về con chung: bà H và ông V chung sống với nhau có có 03 người con chung cháu Huỳnh Thị B, sinh năm 1990 đã có gia đình, cháu Huỳnh Thị B1, sinh năm 1991, đã có gia đình và cháu Huỳnh Vũ P, sinh năm 1994, đã chết năm 2019. Hiện các con đã trưởng thành, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

. Về tài sản chung, nợ chung: Bà H xác định bà và ông V chung sống với nhau không có tạo lập tài sản chung và không nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này, ông V có tranh chấp về tài sản chung, được quyền khởi kiện ở vụ án.

. Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Bà Trần Thị Ánh H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình 300.000 đồng. Bà Trần Thị Ánh H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0003899 ngày 19/02/2024 được chuyển thu án phí.

. Từ những phân tích trên cần chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Trần Thị Ánh H đối với ông Huỳnh Văn V. Xử cho bà Trần Thị Ánh H được ly hôn đối với ông Huỳnh Văn V.

2. Về con chung: Bà H xác định các con chung đã trưởng thành nên bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

3. Về tài sản chung, về nợ chung: Bà H xác định bà H và ông V chung sống với nhau không có tạo lập tài sản chung và không nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và Gia đình: Bà Trần Thị Ánh H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình 300.000 đồng. Bà Trần Thị Ánh H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0003899 ngày 19/02/2024 được chuyển thu án phí.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời gian 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ