- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST Ngày 16-9-2024 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Anh Tuấn.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chinh và ông Lê Đăng Huấn.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Tuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Hoàng – Kiểm sát viên.
Ngày 16/9/2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân huyện K mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 199/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐST- HNGĐ ngày 13/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lương Thị L, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn F, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông. (có đơn xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Y J, sinh năm 1992; địa chỉ: Buôn K, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung đơn khởi kiện và các lời khai tại các buổi làm việc, nguyên đơn bà Lương Thị L trình bày:
- Về hôn nhân: Tôi và ông Y J kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 08 tháng 10 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau cả về quan điểm lẫn phong cách sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã vì những lý do nhỏ nhặt, hiện nay chúng tôi đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Đến nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy tình cảm không còn nên tôi đề nghị Tòa án nhân dân huyện K giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Y J.
Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là cháu Ksơr Lương Hoàng P, sinh ngày 07/02/2018. Hiện nay con chung đang ở với tôi và tôi có nguyện vọng nuôi dưỡng và chăm sóc con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng: Tôi không yêu cầu ông Y J cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Y J đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án để tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K phát biểu ý kiến về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Lương Thị L được ly hôn với ông Y J. Về con chung: Giao con chung là cháu Ksơr Lương Hoàng P, sinh ngày 07/02/2018 cho bà Lương Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về khởi kiện và thụ lý vụ án: Ngày 04/6/2024 bà Lương Thị L nộp đơn khởi kiện, ngày 24/6/2024 Tòa án thụ lý việc khởi kiện của bà L là đúng trình tự thủ tục theo Điều 191, Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện K theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về trình tự thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn ông Y J không chấp hành theo giấy triệu tập, không lên Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án giải quyết vụ án theo những căn cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Ngày 29/8/2024 Tòa án đưa vụ án ra xét xử, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt nên phải hoãn phiên tòa và ấn định xét xử lại ngày 16/9/2024 nhưng bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nguyên đơn có đơn xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với khoản 2 điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị L và ông Y J có đăng ký kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, vào ngày 08 tháng 10 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã vì lý do nhỏ nhặt, bà L, ông Y J đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Qua quá trình xác minh tại chính quyền địa phương thì Ủy ban nhân dân xã Đ xác định vợ chồng ông Y J, bà L có mâu thuẫn, cụ thể như thế nào thì chính quyền địa phương không biết nhưng hiện nay vợ chồng đang sống ly thân với nhau. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Lương Thị L và ông Y J đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho bà Lương Thị L và ông Y J ly hôn là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Ông Y J và bà Lương Thị L có 01 con chung là cháu Ksơr Lương Hoàng P, sinh ngày 07/02/2018. Hiện nay, cháu Ksơr Lương Hoàng P, sinh ngày 07/02/2018 đang ở với mẹ do đó Hội đồng xét xử giao cháu Ksơr Lương Hoàng P, sinh ngày 07/02/2018 cho bà Lương Thị L nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp.
Về chấp dưỡng tiền nuôi con chung: bà Lương Thị L không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà L không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Lương Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, 147, 191, 195; khoản 2 điều 227; khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Lương Thị L được quyền ly hôn với ông Y J.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Ksơr Lương Hoàng P, sinh ngày 07/02/2018 cho bà Lương Thị L trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về chấp dưỡng tiền nuôi con chung: bà Lương Thị L không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Ông Y J được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và công nợ chung: Bà L không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bà Lương Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2023/0011634 ngày 11/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đăk Lăk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND H. K; - UBND xã Đ; - Chi cục THA dân sự H. K; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, Vp. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Cao Anh Tuấn |