vanban.org

Bản án 39/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Thu H. Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Thu H được ly hôn với anh Lê Công H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Võ Thị Thu Hoài - Bị đon Lê Công Hân"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 13-5-2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
,

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đăng Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Ksơr Af Lai.

- Ông Trần Tiến Dũng.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Hòa – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hai – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại Phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 418/2023/TLST - HNGĐ, ngày 24 tháng 11 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thu H, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn E, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Lê Công H, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn E, xã , huyện E, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình làm việc nguyên đơn chị Võ Thị Thu H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H kết hôn với anh Lê Công H trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và đăng ký kết hôn ngày 25/9/2017 tại Ủy ban nhân dân xã Ea Nam, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk. Chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai vợ chồng không hợp nhau, anh H không chăm lo cho gia đình, bỏ bê không lo cho con cái, đánh bài bạc, nghiện ma túy, thường xuyên áp đặt cuộc sống của chị H, đã nhiều lần hai bên gia đình có gắng hàn gắn nhằm giữ mái ấm gia đình nhưng đều không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay không còn tình cảm, hôn nhân không còn hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với anh H.

- Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống chị và anh H có 01 con chung là Lê Thùy A, sinh ngày 29/4/2018, nếu ly hôn chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu cho đến khi trưởng thành

- Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và các khoản nợ: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và quá trình làm việc bị đơn anh Lê Công H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị Hoài kết hôn năm 2017 đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Ea Nam, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk, kết hôn trên cơ sở tự nguyện có qua thời gian tìm hiểu. Trong quá trình chung sống hạnh phúc, cuộc sống vợ chồng chỉ có mâu thuẫn nhỏ là thỉnh thoảng có cãi nhau, anh H vẫn tu chí làm ăn nuôi vợ con, không có đánh bài bạc, về nghiện ma túy thì trước đây có bị nghiện nhưng cách đây 03 năm đã cai nghiện được và hiện nay tinh thần cũng như sức khỏe hoàn toàn bình thường. Chị H bỏ đi khỏi nhà từ tháng 11/2023 cho đến nay không báo cho anh H biết là đi đâu, khi đi mang cả con đi. Nay chị H yêu cầu ly hôn, anh H không đồng ý vì còn thương chị H mong đoàn tụ. Anh H đề nghị chị Hoài mang con đi đâu thì mang về hoặc báo cho cho anh biết hiện nay con chung đang ở đâu để thực hiện quyền thăm con chung.

- Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Trong thời gian chung sống anh H và chị H có 01 con chung là Lê Thùy A, sinh ngày 29/4/2018. Nếu ly hôn anh H có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu A, vì anh H có điều kiện nuôi như có rẫy canh tác cây cà phê, mắc ca, diện tích đất khoảng 7.000m2, đất này thuộc thôn Ea Đen, xã Ea Nam, huyện Ea H’Leo do bố mẹ tặng cho đang làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh H. Nếu được trực tiếp nuôi con chung anh H không yêu cầu cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh H không yêu cầu giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo phát biểu quan điểm về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án về cơ bản là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ đã được thu thập tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử cần chấp nhận cho chị ly hôn với anh cần giao con chung là Lê Thùy A, sinh ngày 29/4/2018 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành; về việc cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung chị Hoài, anh Hân không yêu cầu giải quyết nên không đề cập xem xét

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Võ Thị Thu H và anh Lê Công H là vợ chồng. Do mâu thuẫn trong quá trình chung sống, nên chị H yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung và Tòa án thụ lý giải quyết là phù hợp với khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải, theo khoản 4 Điều 207 của Bộ Luật Tố tụng dân sự Tòa án không tiến hành hòa giải. Chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh H đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên theo khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh H.

Về nội dung: Chị Võ Thị Thu H và anh Lê Công H kết hôn vào năm 2017, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ea Nam, huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 114, ngày 25/9/2017. Hai người chung sống và kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống hạnh phúc được thời gian đầu sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do lối sống của hai người không phù hợp với nhau, hiện nay cũng không còn chung sống với nhau nữa. Nhận thấy, chị H và anh H không còn yêu thương, chăm sóc, quý trọng lẫn nhau, thực tế hôn nhân không còn tồn tại, nếu tiếp tục chung sống cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai người. Vì vậy, để giải phóng sự ràng buộc giữa hai người cần cho chị H được ly hôn với anh .

Về nuôi con chung: Chị H và anh H có với nhau 01 con chung là Lê Thùy A, sinh ngày 29/4/2018. Chị H và anh H đều ó nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi trưởng thành.

Xét thấy, cháu Thùy A còn nhỏ và là con gái nên việc chăm sóc con chung sẽ tốt hơn nếu giao cho chị H. Vì vậy, để đảm bảo sự chăm sóc và phát triển về mọi mặt của con chung, cần giao cháu Thùy A cho chị Hoài trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung và các khoản nợ: Chị H và anh H không yêu cầu giải quyết nên không đề cập xem xét.

Về án phí dân sự: Cần buộc chị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

- Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Thu H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Thu H được ly hôn với anh Lê Công H.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Thùy A, sinh ngày 29/4/2018 cho chị Võ Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng, chă sóc và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Anh Lê Công H có quyền đi lại, thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Võ Thị Thu H và anh Lê Công H không yêu cầu giải quyết nên không đề cập xem xét. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung và các khoản nợ: Chị Võ Thị Thu H và anh Lê Công H không yêu cầu giải quyết nên không đề cập xem xét.

5. Về án phí dân sự: Chị Võ Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk theo biên lai số: AA/2021/0011780 ngày 08/11/2023.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Võ Thị Thu H, anh Lê Công H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Cỡ chữ