vanban.org

Bản án 39/2023/HSST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 22/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Văn Viết S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Văn Viết S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Văn Viết S bị truy tố và xét xử về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Văn Viết S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HSST
Ngày 22-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Thêm

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Tiền Giang;

2. Bà Huỳnh Anh Thư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Văn Viết S, sinh năm 1994; tại Quảng Trị; nơi thường trú: thôn L, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn Viết L (đã chết) và bà Võ Thị S, sinh năm 1961; tiền sự: không; tiền án: không. Bị cáo tại ngoại. có mặt.

Bị hại:

- Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp T, thị trấn Th, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt.

- Bà Giáp Thị D (chết)

Đại D bị hại:

Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1980 ( là chồng); địa chỉ: ấp T, thị trấn Th, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt.

Ông Giáp Văn D1, sinh năm 1960 (là cha); địa chỉ: ấp P, xã Ph, huyện T, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

- Cháu Nguyễn Hữu Tr, sinh ngày 03/7/2010 (là con);

- Cháu Nguyễn Giáp L1, sinh ngày 08/12/2016 (là con).

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp T, thị trấn Th, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Vắng mặt.

Bị đơn dân sự: Ông Nguyễn Đình G, sinh năm 1990; địa chỉ: khu phố Đ, phường T, thị xã U, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Văn Viết S, có giấy phép lái xe hạng C do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh, cấp ngày 13/4/2022 có giá trị sử dụng đến ngày 13/4/2027. Ông Nguyễn Đình G thuê S lái xe ô tô tải cẩu, biển số 61H-081.75.

Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 02/8/2022, S điều khiển xe ô tô tải cẩu đi từ nhà ông G tại khu phố Đ, phường T, thị xã U, tỉnh Bình Dương đến khu vực vòng xoay cây xăng K để chở hàng. Khi S lưu thông trên đường L đoạn thuộc khu phố Đ, phường T, S vượt xe thiếu chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn nên mặt bên phải phần đầu xe ô tô va chạm với mặt bên trái xe mô tô biển số 66G1-706.43 do ông Nguyễn Thanh L điều khiển chở vợ là bà Giáp Thị D lưu thông cùng chiều, gây tai nạn giao thông. Hậu quả, bà D bị thương nặng được người dân hỗ trợ đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương nhưng đã tử vong. Ông L bị xây xát nhẹ, xe mô tô biển số 66G1-706.43 bị hư hỏng.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên tạm giữ đồ vật, tài liệu liên quan gồm:

- 01 xe ô tô tải cẩu biển số 61H-081.75;

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải cẩu biển số 61H-081.75;

- 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô tải cẩu biển số 61H-081.75;

- 01 xe mô tô biển số 66G1-706.43;

- 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Văn Viết S;

- 01 USB hiệu Toshiba có ghi hình ảnh vụ tai nạn (đã niêm phong);

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 873/GĐPY ngày 07/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân Giáp Thị D do đa chấn thương. (BL 17)

Tại Bản kết luận giám định số 383/KL-KTHS(CH) ngày 01/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa hai xe ô tô tải cẩu, biển số 61H-081.75 và xe mô tô hai bánh biển số 66G1-706.43 là: Mặt bên phải phần đầu xe ô tô va chạm với mặt bên trái xe mô tô theo hướng hai xe lưu thông cùng chiều làm xe mô tô ngã qua trái, va chạm với mặt đường tạo ra dấu vết trên các phương tiện. (BL 67)

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 180/KL-HĐĐGTS ngày 21/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Tân Uyên, kết luận: Xe mô tô biển số 66G1-706.43 bị thiệt hại là 5.355.000 đồng. (BL 90-91)

Đối với xe ô tô tải cẩu biển số 61H-081.75, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Đình G. Ngày 03/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 56, trả lại cho ông Nguyễn Đình G. (BL 78)

Đối với xe mô tô biển số 66G1-706.43 là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Thanh L. Ngày 03/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 56, trả lại xe cho ông L. (BL 79)

Sau tai nạn, ông Nguyễn Thanh L bị xây xát nhẹ, không bị thương tích, do vậy ông L từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu gì khác.

Về phần trách nhiệm dân sự: Văn Viết S và ông Nguyễn Đình G thỏa thuận và bồi thường cho ông Nguyễn Thanh L và ông Giáp Văn D1 số tiền 193.000.00 đồng. Ông L và ông D1 không có yêu cầu gì khác và có đơn xin bãi nại cho Văn Viết S. Đối với số tiền ông G bồi thường cho bị hại thì ông G không có yêu cầu bị cáo phải hoàn trả (BL 49-50)

Tại Cáo trạng số: 43/CT-VKSTU ngày 12 tháng 01 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên truy tố bị cáo Văn Viết S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Văn Viết S từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Trả cho bị cáo giấy phép lái xe.

- Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại không có yêu cầu nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên đã truy tố. Bị cáo không trình bày lời bào chữa. Nói lời sau cùng bị cáo trình bày đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với bị cáo là đúng thẩm quyền. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về sự vắng mặt của bị hại tại phiên tòa nhưng đã có lời khai ở Cơ quan điều tra. Quá trình điều tra lời khai của họ không mâu thuẫn lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác. Đại diện Viện kiểm sát và bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt họ. Xét thấy, sự vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Ngày 02/8/2022, tại đường V thuộc khu phố Đ, phường T, thị xã U, tỉnh Bình Dương, Văn Viết S có hành vi điều khiển xe ô tô tải cẩu, biển số 61H-081.75 vượt xe thiếu chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn nên mặt bên phải phần đầu xe ô tô do S điều khiển va chạm với mặt bên trái xe mô tô biển số 66G1-706.43 do ông Nguyễn Thanh L điều khiển chở bà Giáp Thị D lưu thông cùng chiều phía trước, gây tai nạn giao thông. Hậu quả bà D tử vong. Hành vi nêu trên của bị cáo Văn Viết S đã vi phạm vào khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 gây hậu quả làm chết người nên đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo và ông Nguyễn Đình G tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại; bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại và đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện, người tham gia giao thông và nghiêm trọng hơn đã xâm phạm đến tính mạng của bị hại. Do đó, cần áp dụng một hình phạt thật nghiêm để bị cáo thấy được mức độ nguy hiểm do hành vi của mình gây ra, đồng thời cũng nhằm răn đe những người tham gia giao thông nhưng không tuân thủ luật giao thông đường bộ, xem thường sức khỏe, thậm chí cả tính mạng của người khác.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu xe môtô và ô tô là đúng quy định. Giấy phép lái xe cần trả lại cho bị cáo.

Đối chiếu các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt và xử lý vật chứng là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Văn Viết S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Văn Viết S 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả cho bị cáo: 01 Giấy phép lái xe hạng C tên Văn Viết S

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12 tháng 01 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên).

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án, buộc bị cáo Văn Viết S phải nộp 200.000 đồng.

4. Bị cáo, bị đơn dân sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại D bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ