- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn N - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 39/2023/HSST Ngày: 25-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L-TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Mỹ Hường; Bà Lê Thị Thanh Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Anh Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L mở phiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2023/TLST-HS ngày 28/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-HS ngày 07/4/2023, đối với bị cáo:
Phạm Văn N, sinh năm 1968 tại thành phố L, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Số A8, khóm P, phường Q, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T9 (chết) và bà Trần Thị D9 (chết); Bị cáo có vợ tên Trần Thị N, sinh năm 1970 và có 03 con, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/01/2023 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Hùng L8, sinh năm 1963. Nơi cư trú: Số A9, khóm Q, phường Q, thành phố L, tỉnh An Giang. Có mặt
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Ông Vương Thiên N8 – Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Yến Nam – Đoàn Luật sư tỉnh An Giang. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 30/7/2022, Công an phường Q, thành phố L nhận được điện thoại của anh Nguyễn Phi Đ9 cho biết Phạm Văn N uống rượu say, có hành vi dùng cây chĩa (cán bằng cây tầm vông dài khoảng 2,1m, mũi nhọn làm bằng 02 đoạn kim loại dài 10cm) rượt đuổi anh Phạm Phú C9 (em ruột của N) tại khu vực tổ 3, khóm P, phường Q, thành phố L, gây mất an ninh trật tự nên lãnh đạo Công an phường Q phân công các anh Nguyễn Hoàng H9, Lê Hùng L8, Phạm Minh T9 và Nguyễn Viết C8 (Công an phường và bảo vệ dân phố) đi giải quyết vụ việc. Khi lực lượng Công an và bảo vệ dân phố đến thấy N đang ngồi trong nhà, trên tay đang cầm cây chĩa nên lực lượng yêu cầu N bỏ hung khí xuống nhưng N không chấp hành mà dùng cây chĩa tấn lực lượng thi hành công vụ. N cầm chĩa đâm anh H9 nhưng không trúng do anh H9 tránh được. N tiếp tục cầm chĩa đâm anh L8 trúng tay trái gây thương tích nên lực lượng khống chế bắt giữ N đưa về Công an phường Q lập biên bản.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 cây chĩa, cán bằng cây tầm vông dài khoảng 2,10m, mũi nhọn làm bằng 02 đoạn kim loại dài 10cm.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 573/22/TgT ngày 25 tháng 10 năm 2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh An Giang, đối với Lê Hùng L8, sinh năm 1963 xác định dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo mặt sau 1/3 giữa cẳng tay trái kích thước (1.2x0.3)cm, sẹo phẳng, sậm màu, bờ nham nhở. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể, thương tích vật nhỏ gây nên hiện tại là 01 %.
Kết luận giám định pháp y tâm thần số 02/2023/KLGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2023 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ đối với Phạm Văn N, sinh năm 1968, xác định về y học: Trước, trong, sau khi phạm tội và hiện tại: Rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng rượu (F10.71-ICD10); Về năng lực, tại thời điểm phạm tội và hiện tại: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Cáo trạng số: 33/CT-VKSLX ngày 17/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L truy tố bị cáo Phạm Văn N về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử,
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 330, điểm b, i, q, s khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn N từ 03 tháng đến 04 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 cây chĩa dài 02,20m, cán bằng thân cây tre tầm vông dài khoảng 02,10m, mũi làm bằng hai đoạn kim loại dài 10cm, mũi nhọn.
Luật sư Vương Thiên N8 bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, khi chống trả lại lực lượng của phường thì bị cáo có rượu trong người, tinh thần không ổn định, đề nghị áp dụng các tính tiết giảm nhẹ theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt là 03 tháng tù hoặc cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra, bị cáo Phạm Văn N thừa nhận thường xuyên uống rượu nên tinh thần không ổn định. Ngày 30/7/2022, bị cáo có dùng chĩa rượt em trai thì lực lượng tự vệ của phường đến căn ngăn, bị cáo có dùng chĩa chống trả lại lực lượng, gây thương tích cho ông L8 như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi vừa qua.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hùng L8, trình bày: Ông L8 là bảo vệ dân phố của phường Q. Khoảng hơn 20 giờ ngày 30/7/2022, Công an phường nhận được thông tin bị cáo có hành vi rượt đánh anh Phạm Phú C9 nên cử lực lượng xuống nhà bị cáo để can ngăn thì bị cáo dùng cây tầm vông có đầu sắt tấn công lực lượng, trúng vào tay trái ông L8 gây thương tích. Đây không phải là lần duy nhất, hàng ngày bị cáo thường uống rượu và có hành vi chửi mắng, bạo hành hành gia đình. Qua sự việc trên, bị cáo có bồi thường tiền thuốc 500.000 đồng cho ông L8. Đối với việc bị cáo gây thương tích trên cơ thể của ông 01%, ông không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử
Các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm hình sự
Ngày 30/7/2022, bị cáo thừa nhận sau khi đã uống rượu say, bị cáo có dùng cây tầm vong có gắn đầu sắt nhọn (cây chĩa) rượt đuổi anh Phạm Phú C9 và được tổ công tác của Công an phường Q đến can ngăn, giải quyết thì bị cáo không chấp hành mà tiếp tục dùng hung khí tấn công tổ công tác và đâm trúng tay anh Lê Hùng L8 là thành viên tổ công tác gây thương tích. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, việc truy tố bị cáo theo tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.
Đối với việc bị cáo có hành vi dùng chĩa được xem là hung khí nguy hiểm gây thương cho ông Lê Hùng L8 là người đang thi hành công vụ, với lệ tổn thương cơ thể 01% là phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” nhưng do ông L8 không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không khởi tố bị cáo Phạm Văn N về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ.
Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội
Bị cáo là người đang ở độ tuổi trung niên, còn sức khỏe lao động và điều khiển được hành vi của bản thân nhưng bị cáo nghiện rượu dẫn đến rối loạn nhân cách, dùng chĩa được xem là hung khí nguy hiểm tấn công người thân và chống lại lực lượng thi hành công vụ khi được can thiệp, điều này thể hiện tính côn đồ, liều lĩnh, xem thường pháp luật, xâm phạm đến công tác quản lý an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân biết tôn trọng pháp luật, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Về nhân thân: Bị cáo có nhân tốt, không tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 thuộc trường hợp phạm tội có tính chất côn đồ theo quyết định truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa đề nghị áp dụng điểm b, i, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt từ 03 tháng đến 04 tháng tù; Người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 tháng tù hoặc cho bị cáo hưởng án treo. Xét thấy, bị cáo dùng hung khí nguy hiểm tấn công người đang thi hành công vụ, điều này thể hiện tính côn đồ, thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên không thuộc trường hợp được hưởng án treo theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, đồng thời cần giáo dục tính chấp hành pháp luật của bị cáo nên không áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự
Ông Lê Hùng L8 không có yêu cầu bồi thường thiệt hại về dân sự nên không xét đến.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L có chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/4/2023 và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xử lý vật chứng như sau: 01 cây chĩa dài 02,20m, cán bằng thân cây tre tầm vông dài khoảng 02,10m, mũi làm bằng hai đoạn kim loại dài 10cm, mũi nhọn. Đây là hung khí bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 330, Điều 38, điểm b, i, q, s khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và án phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1] Về hình phạt
Xử phạt bị cáo Phạm Văn N 06 (sáu) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
[2] Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác
Tịch thu tiêu hủy: 01 cây chĩa dài 02,20m, cán bằng thân cây tre tầm vông dài khoảng 02,10m, mũi làm bằng hai đoạn kim loại dài 10cm, mũi nhọn.
(Xử lý vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/4/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L).
[3] Về án phí sơ thẩm
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo
Bị cáo hoặc thông qua người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
(Giải thích Điều 26 Luật Thi hành án dân sự)
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND Tp.L; - Chi cục Thi hành án dân sự Tp.L; - Nhà tạm giữ Công an Tp.L; - Sở Tư pháp tỉnh An Giang; - Phòng KTNV-TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - Lưu hồ sơ + VP. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quốc Nam |