vanban.org

Bản án 39/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Hải Châu, TP Đà Nẵng Tuyên án 30/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Q phạm tội “Tàng trữ phé p chất ma tú y”.

sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Q 09 (chín) năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03 tháng 9 năm 2022. Về xử lý vâ ̣t chứ ng: Áp dụng điểm a, c khoản 2, khoản 3 điều 106 Bộ Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Huỳnh Q phạm tội “Tàng trữ phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Q phạm tội “Tàng trữ phé p chất ma tú y”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢICHÂU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HSST
Ngày: 30 tháng 3 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thùy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Phú Cường.

Ông Nguyễn Xuân Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào – Thư ký Tòa án nhân dân

quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu,

thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 133/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 20

tháng 9 năm 1993, tại thành phố D1; Nơi ĐKHKTT: K123/H83/12 đường C, phường H1, quận T1, thành phố D1; Chỗ ở: 61/02 đường N1, phường X, quận T1, thành phố D1; Số CMND: 2016*****; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiê ̣p: Không. Con ông: Huỳnh H2 (sinh năm 1969) và bà Võ Thị M (sinh năm: 1972). Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án: - Bản án số 88/2016/HSST ngày 27.8.2016 của Tòa án nhân dân

quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt Huỳnh Q 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1994. Đến ngày 29.01.2022 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 54/QĐ-XPVPHC

ngày 03.9.2014 của Công an thành phố Đà Nẵng đối với Q về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 03 tháng

9 năm 2022, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Kim C – sinh

năm 1995, trú tại: Tổ 41, phường H1, quận T1, thành phố D. Chỗ ở: 32/1 đường P, phường H3, quận H3, thành phố D1 (có mặt ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 03.9.2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Huỳnh Q đến

bến xe trung tâm thành phố D1 mua 300.000 đồng ma túy đá của một nam thanh niên, Q đến nhà nghỉ trên đường N2 lấy ma túy ra sử dụng một phần, phần còn lại Q cất vào túi quần nhỏ phía trước, bên phải. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, R sử dụng số điện thoại 0708.1***** gọi vào số 0763.5***** của Q, rủ Q đi sinh nhật tại quán B, thành phố D. Đồng thời, R nhờ Q liên hệ với N3 sử dụng số điện thoại 0766.7***** lấy ma túy thuốc lắc và Ketamine mà R đã đặt trước để đem đến sinh nhật của R cùng sử dụng, Q đồng ý. Sau đó, Q dùng số điện thoại 0779.5***** liên lạc với N3 để lấy số ma túy trên và hỏi mua thêm 10 viên thuốc lắc để đem đến tiệc sinh nhật sử dụng, N3 hẹn Q giao dịch tại khu vực ngã tư đường H4 – L1, thành phố D. Q điều khiển xe mô tô biển số 43D1-71*.** đến nơi hẹn, Q đưa cho N3 3.300.000 đồng, N3 chỉ cho Q nhặt một gói thuốc lá. Q bỏ gói thuốc lá chứa ma túy vào túi quần phía trước bên phải rồi điều khiển xe đến quán B.

Đến khoảng 22 giờ 35’ cùng ngày, khi Q đi đến đoạn trước nhà số 63 đường

D2, phường T2, quận H3, thành phố D1 thì Lực lượng Công an thành phố Đà Nẵng phối hợp với Công an quận Hải Châu phát hiện Q có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra, Q liền bỏ chạy đến ngã ba D2 – L2 thì bị giữ lại phát hiện, bắt quả tang Q tàng trữ ma túy.

Vật chứng thu giữ:

- Tại túi quần trước, bên phải Q đang mặc: 01 gói nilong kích thước (5 x

8)cm bên trong chưa 10 viên nén màu cam và 01 gói nilong kích thước (3 x 4)cm bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 gói nilong kích thước (3 x 4)cm bên trong chưa 03 viên nén màu cam và 01 gói nilong kích thước (3 x 4)cm bên trong chưa thể rắn màu trắng (được niêm phong, ký hiệu A).

- Tại túi quần nhỏ phía trước, bên phải Q đang mặc: 01 gói nilong kích

thước khoảng (1,5 x 4)cm chứa tinh thể màu trắng (được niêm phong, ký hiệu B).

- 01 điện thoại di động Nokia màu đen, số Imei 3562450425*****, gắn sim

số 0779.5*****.

- 01 điện thoại di động màu vàng, có chữ Iphone, số Imei 1:

3531311008*****, số Imei 2: 3531311007*****, gắn sinh số 0763.5*****.

- Số tiền 7.240.000 đồng.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen đỏ, biển số 43D1-71*.**,

số khung RLHJF6326HZ1*****, số máy JF63E21*****.

Vào lúc 02 giờ 50’ ngày 04.9.2022, Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu

tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Huỳnh Q tại phòng số 01 nhà số K61/02 đường N1, phường X, quận T1, thành phố D1. Kết quả khám xét, không thu giữ được gì.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy thông qua mẫu nước tiểu bằng que thử CA

Test kít: Huỳnh Q dương tính với chất ma túy.

Biên bản kiểm tra điện thoại di động màu vàng, có chữ Iphone, gắn sim số:

0763.5***** của Huỳnh Q với số thuê bao 0708.1***** lưu tên trong danh bạ “Ku r” vào ngày 03.9.2022 xác định: Có 01 cuộc gọi đi lúc 21 giờ 27’ (thời lượng 34 giây). Tin nhắn SMS, ứng dụng Zalo, Facebook, Messenger: đều không có nội dung liên quan đến ma túy.

Biên bản kiểm tra điện thoại di động màu đen, có chữ Nokia, gắn sim số:

0779.5***** của Huỳnh Q với số thuê bao 0766.7***** lưu tên trong danh bạ “nhi” vào ngày 03.9.2022 xác định: 01 cuộc gọi đi lúc 13 giờ 34’ (thời lượng 40 giây) và 22 giờ 36’ (thời lượng 00 giây). Tin nhắn SMS, không có nội dung liên quan đến ma túy.

Theo Kết luận giám định số 192/KLMT-KTHS ngày 09.9.2022 của Phòng

kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng thì chia mẫu niêm phong ký hiệu A thành mẫu ký hiệu A1 (gồm tinh thể rắn màu trắng trong 02 gói niêm phong) và A2 (gồm 13 viên nén màu cam); kết luận:

- Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại

Ketamine; khối lượng mẫu A1: 4,571 gam.

- Các viên nén màu cam trong mẫu ký hệu A1 gửi giám định là ma túy, loại

MDMA; khối lượng mẫu A2: 6.318 gam.

- Tinh thể rắn màu trắng trong mẫu ký hiệu B gửi giám định là ma túy, loại

Methamphetamine; khối lượng mẫu B: 0,167 gam.

- Kèm theo kết luận giám định này có: Biên bản đóng gói, niêm phong và

giao, nhận lại đối tượng giám định; 01 bì niêm phong đựng mẫu hoàn trả.

- Hoàn trả lại đối tượng giám định: 4,119 gam mẫu A1; 5,646 gam mẫu A2;

0,081 gam mẫu B và toàn bộ vỏ bao gói.

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 29 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm

sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Huỳnh Q về tội “Tàng trữ trá i phé p chất ma tú y” theo điểm n, o khoản 2 điều 249 Bô ̣ luâ ̣t hinh̀ sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định

truy tố đối với bị cáo Huỳnh Q và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp du ̣ng điểm n, o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bô ̣ luâ ̣t

hình sự, xử pha ̣t bi ̣ cáo từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Áp dụng điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm c

khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu tiêu hủy 4,119 gam mẫu A1; 5,646 gam mẫu A2; 0,081 gam mẫu B và toàn bộ vỏ bao gói mẫu hoàn trả sau giám định; Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số imei: 3562450425***** gắn sim số 0779.5*****; 01 điện thoại di động màu vàng, có chữ Iphone, số Imei 1: 3531311008*****, số Imei 2: 3531311007*****, gắn sim số 0763.567.809; Hoàn trả cho bị cáo Huỳnh Q số tiền 7.240.000đồng (Bảy triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng).

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy được lỗi lầm của mình và xin Hội đồng

xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ

vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện

kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo

Huỳnh Q đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hô ̣i đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy, nên chiều ngày 03.9.2022 Huỳnh Q có mua 300.000 đồng ma túy đá của một nam thanh niên tại Bến xe trung tâm thành phố D1, Q đến thuê nhà nghỉ trên đường N2 rồi lấy ma túy ra sử dụng một phần, còn lại 0,167 gam ma túy loại Methamphetamine Q cất giấu vào túi quần nhỏ phía trước, bên phải. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, R rủ Q đến B sinh nhật và liên hệ với N3 để nhận ma túy giúp R và Q mua thêm 10 viên thuốc lắc để đem đến sinh nhật sử dụng, Q cất giấu 4,571 gam ma túy Ketamine và 6,318 gam ma túy MDMA vào túi quần phía trước bên phải. Khi điều khiển xe mô tô biển số 43D1-71*.** đến trước nhà số 62 D1, phường T2, quận H3, thành phố D1 thì bị lực lượng Công an dừng lại kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Khối lượng 03 chất ma túy Huỳnh Q tàng trữ để sử dụng là: 6,318 gam MDMA, 4,571 gam Ketamine, 0,167 gam Methamphetamine.

Căn cứ Điều 4, khoản 3 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày

02.02.2018 của Chính phủ: tính tổng khối lợng MDMA và methamphetamine là 6,318 + 0,167 gam = 6,485 gam; tính tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 03 chất ma túy: MDMA, Methamphetamine và Ketamine so với mức tối thiểu đối với từng chất đó được quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự: (6,485/30) x 100% + (4,571/100) x 10% = 21,62% + 4,571% = 26,191% (dưới100%). Do đó, hành vi nêu trên của Huỳnh Quý đã cấu thành tội “Tàng trữ trá i phé p chất ma tú y”. Ngoài ra, tại Bản án số 88/2016/HSST ngày 27.8.2016 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt Huỳnh Q 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1994. Đến ngày 29.01.2022 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n, o khoản 2 Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự̀

như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án là rất nghiêm tro ̣ng, hành vi của bi ̣ cáo đã xâm phạm

đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó cần phải xử lý một mức hình phạt tù tương ứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Việc bị cáo khai bị cáo lấy giúp cho R số ma túy R mua của N3 là có dấu hiệu của tội vận chuyển trái phép chất ma túy được quy định tại điều 250 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, đây là lời khai duy nhất của bị cáo vì không xác định được R và N3 nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự của tội tàng trữ trái phép chất ma túy đối với lượng ma túy nhận vận chuyển giúp R là có cơ sở.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo

Huỳnh Quý không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy

tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái đô ̣ khai báo thành khẩn. Do đó cần áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm

2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, qua kết quả xác minh của cơ quan điều tra thì bị cáo không có tài sản riêng và là người nghiện chất ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 4,119 gam mẫu A1; 5,646 gam mẫu A2; 0,081 gam mẫu B và

toàn bộ vỏ bao gói mẫu hoàn trả sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự để tịch thu tiêu hủy;

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số imei:

3562450425***** gắn sim số 0779.583***** và 01 điện thoại di động màu vàng, có chữ Iphone, số Imei 1: 3531311008*****, số Imei 2: 3531311007*****, gắn sim số 0763.5***** Q sử dụng vào việc liên lạc và mua ma túy của N3 nên cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen đỏ, biển số

43D1-71*.**, số khung RLHJF6326HZ1*****, số máy JF63E21***** do anh Huỳnh N4 đứng tên chủ sở hữu, anh N4 chết vào năm 2021, xe hiện được vợ của anh N4 là chị Nguyễn Thị Kim C quản lý. Chị C đưa xe cho Q mượn làm phương tiện đi lại, không biết việc Q sử dụng xe vào việc phạm tội. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu trả lại xe cho chị C là có cơ sở.

Đối với số tiền 7.240.000đồng (Bảy triệu hai trăm bốn mươi nghìn

đồng) là tiền cá nhân của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên cần áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để trả lại cho bị cáo Huỳnh Q.

Đối với người tên R là người gọi điện thoại nhờ Q liên lạc với N3 để

lấy ma túy và Nhi là người bán ma túy cho Q, hiện nay chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau, là có cơ sở.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Q, Cơ quan Công an

quận Hải Châu đã ra Quyết định số 346/QĐ-XPHC ngày 04.11.2022 xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đồng là đúng quy định của pháp luật.

Từ những nhận định trên, xét thấy lời luận tội của Kiểm sát viên -

Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng về tội danh và áp dụng các điều luật là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Huỳnh Q thực hiện hành vi phạm tội, bị kết án nên

phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Q phạm tội “Tàng trữ phé p chất ma tú y”.

1. Căn cứ điểm n, o khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình

sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Q 09 (chín) năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03 tháng 9 năm 2022.

2. Về xử lý vâ ̣t chứ ng: Áp dụng điểm a, c khoản 2, khoản 3 điều 106 Bộ

luật tố tụng hình sự; Điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy 4,119 gam mẫu A1; 5,646 gam mẫu A2; 0,081 gam mẫu

B và toàn bộ vỏ bao gói mẫu hoàn trả sau giám định;

- Tịch thu sung qũy Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen,

số imei: 3562450425***** gắn sim số 0779.5*****; 01 điện thoại di động màu vàng, có chữ Iphone, số Imei 1: 3531311008*****, số Imei 2: 3531311007*****, gắn sim số 0763.5*****.

- Hoàn trả cho bị cáo Huỳnh Q số tiền 7.240.000đồng (Bảy triệu hai trăm

bốn mươi nghìn đồng).

Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quâ ̣n

Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 01 năm 2023.

3. Về án phí:

Căn cứ điểm a khoản 1 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Huỳnh Q phải chi ̣u 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phi hí nh̀

sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có

quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP Đà Nẵng;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

- VKSND TP Đà Nẵng;

- VKSND quận Hải Châu;

- Công an quận Hải Châu;

- Nhà tạm giữ Công an Q.Hải Châu, TP. Đà Nẵng;

- Cơ quan THA hình sự quận Hải Châu;

- Chi cục THA dân sự quận Hải Châu;

- Bị cáo; người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ.

Nguyễn Thị Ngọc Thùy

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Phú Cường Nguyễn Xuân Tùng

Nguyễn Thị Ngọc Thùy

Cỡ chữ