vanban.org

Bản án 39/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 31/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã V - thị xã Q - tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TH
TỈNH B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HSST
Ngày: 31/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TH - TỈNH B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Quế và ông Lê Bá Thành.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Phú - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Th.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Th tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lâm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31/5/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Th - tỉnh B. Toà án nhân dân thị xã Th mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2023/TLST-HS ngày 27/4/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 26/2023/QĐXXST-HS ngày 15/5/2023 và Thông báo về việc thay đổi thời gian và địa điểm mở phiên tòa số: 03/2023/TB-TA ngày 28/5/2023, đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN T, sinh năm 1990.

Trú tại: Thôn V - xã V - thị xã Q - tỉnh B; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1970; Có vợ là Lại Thị Q, sinh năm 1992 và 03 con: Con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn“Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

- Anh ĐINH CÔNG Đ, sinh năm 1993.

Trú tại: Xóm N - xã S - huyện M - tỉnh H (Đã chết).

- Anh LÝ VĂN CH, sinh năm 1991.

Trú tại: Bản Nh - xã X - huyện B - tỉnh L (Đã chết).

* Người đại diện hợp pháp của người bị hại Đinh Công Đ:

- Ông ĐINH CÔNG H, sinh năm 1967 (Là bố đẻ của người bị hại Đinh Công Đ). Vắng mặt tại phiên tòa.

- Bà HÀ THỊ H, sinh năm 1975 (Là mẹ đẻ của người bị hại Đinh Công Đ). Vắng mặt tại phiên tòa.

- Chị BÙI THỊ B, sinh năm 1997 (Là vợ của người bị hại Đinh Công Đ). Vắng mặt tại phiên tòa.

Cùng trú tại: Xóm N - xã S - huyện M - tỉnh H.

* Người đại diện hợp pháp của người bị hại Lý Văn Ch:

- Ông LÝ HỮU H, sinh năm 1969 (Là bố đẻ của người bị hại Lý Văn Ch). Vắng mặt tại phiên tòa.

- Bà HOÀNG THỊ N, sinh năm 1972 (Là mẹ đẻ của người bị hại Lý Văn Ch). Vắng mặt tại phiên tòa.

- Chị ĐẶNG THỊ L, sinh năm 1994 (Là vợ của người bị hại Lý Văn Ch). Vắng mặt tại phiên tòa.

Cùng trú tại: Bản Nh - xã X - huyện B - tỉnh L.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông NGUYỄN VĂN T1, sinh năm 1971.

Trú tại: Thôn V - xã V - thị xã Q - tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.

- Cháu ĐINH BẢO Q, sinh năm 2018 (Là con đẻ của người bị hại Đinh Công Đ).

Người đại diện hợp pháp của cháu Đinh Bảo Q: Chị BÙI THỊ B, sinh năm 1997 (Là mẹ đẻ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Đinh Bảo Q).

Cùng trú tại: Xóm Nt - xã S - huyện M - tỉnh H. Đều vắng mặt tại phiên tòa.

- Cháu LÝ TRUNG NGH, sinh năm 2013 (Là con đẻ của người bị hại Lý Văn Ch).

Người đại diện hợp pháp của cháu Lý Trung Ngh: Chị ĐẶNG THỊ L, sinh năm 1994 (Là mẹ đẻ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Lý Trung Ngh).

Cùng trú tại: Bản Nh - xã X - huyện B - tỉnh L. Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1990; trú tại: Thôn V - xã V - huyện Q - tỉnh B (Nay là thôn V - xã V - thị xã Q - tỉnh B) có giấy phép lái xe hạng C số: 270175018522 do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 14/9/2022, có giá trị đến 14/9/2027. Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 03/11/2022, T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios màu nâu vàng, biển kiểm soát 99A-432.94 mượn của ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1971 ở thôn V - xã V - huyện Q - tỉnh B (Nay là thôn V - xã V - thị xã Q - tỉnh B) là bố đẻ của T để chở anh Bùi Danh Th, sinh năm 1984; trú tại: Phố H - thị trấn H - huyện Th - tỉnh B (Nay là khu phố H - phường H - thị xã Th - tỉnh B) đi từ phường V - thành phố B - tỉnh B để về phố H - thị trấn H - huyện Th - tỉnh B (Nay là khu phố H - phường H - thị xã Th - tỉnh B). Đến 21 giờ 57 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô đến ngã tư Cầu H - thị trấn H - huyện Th - tỉnh B (Nay là ngã tư Cầu H - phường H - thị xã Th - tỉnh B) thì rẽ trái đi vào đường tỉnh lộ 280 hướng đi huyện Gi - tỉnh B. Khi đi được khoảng 100m đến địa phận thôn Ng - xã H - huyện Th - tỉnh B (Nay là thôn Ng - xã H - thị xã Th - tỉnh B), anh Th phát hiện đi nhầm đường nên bảo T điều khiển xe quay đầu lại hướng về ngã tư Cầu H thì T đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe ô tô đánh lái về bên trái rồi quay đầu xe. Lúc này, T thấy đầu xe ô tô sát với bờ đê phía Bắc, không đủ khoảng cách phía trước để tiếp tục tiến lên nên T điều khiển xe ô tô lùi lại để tiếp tục quay đầu xe. Quá trình lùi xe, T chỉ chú ý quan sát hướng về cầu Hồ, không chú ý quan sát hướng đi về huyện Gi. Khi T đang lùi xe được khoảng hơn 02m thì đúng lúc này có anh Đinh Công Đ, sinh năm 1993; trú tại: Xóm N - xã S - huyện M - tỉnh H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu trắng, biển kiểm soát 28H1-328.26 chở anh Lý Văn Ch, sinh năm 1991; trú tại: Bản Nh - xã X - huyện B - tỉnh L đi trên đường tỉnh lộ 280 hướng từ huyện Gi - tỉnh B đến đâm vào cánh cửa phía sau bên phải làm xe ô tô bị đẩy về phía trước, đầu xe sát mép tường, xe mô tô bị đổ xuống đường, sát cánh cửa xe ô tô, làm hai phương tiện bị hư hỏng. Anh Đ và anh Ch bị ngã nằm cạnh xe mô tô trong tình trạng bất tỉnh. Sau đó, T đưa anh Đ và anh Ch đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Th (Nay là Trung tâm y tế thị xã Th). Tuy nhiên, do thương tích nặng nên anh Đ và anh Ch đã chết trên đường đi cấp cứu.

Ngay sau khi nhận được tin báo, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Th (Nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Th) đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, đồng thời tiến hành các biện pháp điều tra, thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật.

Qua khám nghiệm hiện trường cho thấy:

Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông là đường tỉnh lộ 280, đoạn thuộc thôn Ng - xã H - huyện Th - tỉnh B (Nay là thôn Ng - xã H - thị xã Th - tỉnh B). Phía Bắc giáp tường sau đó là mặt tường đê phía sau là bãi bồi sông Đuống; Phía Nam giáp cánh đồng thôn Ng - xã H; Phía Đông là hướng di chuyển đi huyện Gi; Phía Tây là hướng di chuyển đi ngã tư Cầu H. Mặt đường trải nhựa bằng phẳng, chia thành hai làn đường bởi nét kẻ đứt đoạn màu vàng ở giữa mặt đường. Mặt đường rộng 10,7m, tường đê cao 1,2m, lề đường rộng 0,45m.

Lấy mép đường phía Bắc đường tỉnh lộ 280 làm chuẩn. Lấy cột mốc Km 32 biển sông Đuống nằm trên mặt đường đê phía Bắc của đoạn đường làm mốc.

Ký hiệu 1: Là xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu trắng, biển kiểm soát 28H1- 328.26. Ký hiệu 2: Là vết máu 1. Ký hiệu 3: Là vết máu 2. Ký hiệu 4: Là xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios màu nâu vàng, biển kiểm soát 99A- 432.94. Ký hiệu 5: Là các mảnh vỡ của hai phương tiện.

Tại hiện trường phát hiện các dấu vết như sau:

Phát hiện xe mô tô ký hiệu (1) nằm đổ nghiêng bên phải trên làn đường phía Bắc. Đầu xe hướng Tây Bắc, đuôi xe hướng Đông Nam. Khoảng cách từ trục trước và trục sau xe mô tô lần lượt đến mép chuẩn là 1m và 1,4m. Xe mô tô trong tình trạng bị hư hỏng vỡ các bộ phận vỏ xe.

Phát hiện vết máu kí hiệu (2) có diện (60x50)cm, dạng máu đông ở trên làn đường phía Bắc. Khoảng cách từ tâm vết máu đến mép đường chuẩn là 1,8m và lần lượt cách trục trước và trục sau xe mô tô là 0,9m và 0,5m. Tâm vết máu cách trục sau xe ô tô là 0,5m.

Phát hiện vết máu kí hiệu (3) diện (70x60)cm, dạng máu ướt ở trên làn đường phía Bắc. Khoảng cách từ tâm vết máu đến mép đường chuẩn là 0,3m; đến trục trước xe mô tô là 0,6m và trục trước bên phải xe ô tô là 1,6m.

Phát hiện xe ô tô kí hiệu (4) nằm trên làn đường phía Bắc, đầu xe hướng Tây Bắc, đuôi xe hướng Đông Nam. Cạnh đầu xe phía trước bên phải sát với bờ tường phía Bắc, tại vị trí này móp méo, bong bật một phần nhựa khỏi vị trí ban đầu, đèn xi nhan trước, sau và gương vẫn nhấp nháy. Trục trước bánh xe bên phải trùng với mép đường chuẩn, khoảng cách từ trục sau bên phải đến mép đường chuẩn là 1,7m và đến trục sau xe mô tô là 1m. Khoảng cách từ trục trước bên phải xe ô tô và trục trước xe mô tô là 2m. Trục trước và trục sau bên trái xe ô tô đến mép đường chuẩn lần lượt là 1m và 2,7m. Trục trước bên trái đến điểm vuông góc với điểm mốc là 17,8m từ điểm vuông góc đến điểm mốc là 3,2m.

Tại phần tường bờ đê phần tiếp giáp khi xe ô tô va chạm vào có vết mài trượt sáng màu, dính tạp chất gồm hai vết: Một vết có diện kích thước là (40x5)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 42cm và một vết có diện kích thước là (40x17)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 42cm. Các dấu vết này tạo bởi va chạm phần cạnh đầu xe phía trước bên phải, gần cụm đèn phía trước bên phải xe ô tô với mặt tường.

Tại cửa sau bên phải xe ô tô bị móp méo, lõm hướng từ ngoài vào trong, phần kính chắn gió cửa này vỡ, bong bật để lộ nội thất xe ô tô. Kiểm tra tại khung cánh cửa phía trước tiếp giáp với nóc xe và bản lề mở cửa có bám dính hỗn hợp chất màu đỏ và chất nhầy màu trắng. Phần nóc mui xe, cách khung cửa trước bên phải 2cm và cách khung trên cùng kính chắn gió phía trước 15cm có vết máu dạng chùi quệt.

Phát hiện các mảnh vỡ kí hiệu (5) có diện phức tạp gồm các mảnh vỏ nhựa, kính vỡ vụn của hai phương tiện.

Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Th (Nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Th) đã tạm giữ: 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios màu nâu vàng, biển kiểm soát 99A-432.94; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu trắng, biển kiểm soát 28H1-328.26 và các giấy tờ liên quan đến các phương tiện để phục vụ công tác điều tra. Tiến hành rà soát Camera an ninh được lắp đặt xung quanh hiện trường, kết quả: Không phát hiện có Camera an ninh nào được lắp đặt xung quanh khu vực hiện trường. Tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Nguyễn Văn T, kết quả: Nồng đồ cồn trong hơi thở của T tại thời điểm kiểm tra là 0,00mg/l. Tiến hành kiểm tra nước tiểu của T, kết quả: Không phát hiện chất ma túy trong nước tiểu của T.

Qua khám nghiệm tử thi anh Đinh Công Đ cho thấy:

Khám ngoài xác định: Tử thi là nam giới, được gia đình xác nhận là Đinh Công Đ, sinh năm 1993; trú tại: Xóm N - xã S - huyện M - tỉnh H. Tử thi mặc ngoài áo len dài tay màu nâu xám, toàn bộ thân áo phía sau có dính nhiều máu thấm. Mặc quần bò dài màu xanh, mặt trước ống quần bên trái ngay sát đường chỉ may dọc phía trong cách trên gấu quần 33cm có vết rách vải hình thước thợ, cạnh dọc dài 7,5cm, ngang dài 2cm, mở góc xuống dưới và sang trái, xung quanh mài trượt trên diện (9x8)cm. Trong mặc quần lót màu xám. Chiều dài tử thi 1,68m. Thể tạng bình thường. Tình trạng tử thi: Co cứng.

Các vết tổn thương cơ thể, cụ thể: Vùng đỉnh chẩm phải ngay sát đường giữa, cách trên đường chân tóc gáy 10cm có diện rách da kích thước (6x5)cm, hai mắt nhắm, bầm tụ máu quanh hai mắt. Đầu ngoài mắt bên trái có vết rách da kích thước (1x0,5)cm. Vùng đỉnh mũi đến vùng quanh miệng, vùng má trái, vùng cổ trái có diện nhiều vết rách da không liên tục, kích thước (20x13)cm. Vỡ phức tạp các răng hàm trên, hàm dưới. Vùng đầu lưỡi bị rách phức tạp. Mặt trước vai phải có diện sây sát rách da nông diện (11x7)cm. Thành ngực vững. Vùng ngực đến thượng vị cách trên rốn 10cm có diện sây sát da nằm ngang, kích thước (21x5)cm, chiều hướng từ trên xuống dưới, hơi chếch sang trái. Khung chậu vững. Bộ phận sinh dục không phát hiện tổn thương. Mu bàn tay phải rải rác các vết sây sát da diện (8x7)cm. Mặt trước ngoài 1/3 cánh tay dưới đến khuỷu tay có diện sây sát da kích thước (6,5x5)cm. Mặt trước trong 1/3 giữa đùi phải có một số vết xây xước da diện (8x4)cm. Mặt trước đầu gối phải có vết sây sát da bầm tụ máu, kích thước (4x2)cm. Vùng bẹn bên trái có một số vết sây sát da trên diện (6x4)cm. Gãy kín 1/3 giữa xương đùi bên trái. Mặt trước trong đầu gối trái có diện sây sát, rách da kích thước (14x13)cm. Mặt trước 1/3 giữa cẳng chân trái có diện sây sát da, bầm tụ máu, kích thước (10x4)cm.

Mổ tử thi: Giải phẫu vùng cổ, ngực, bụng phát hiện da cơ vùng cổ, ngực, bụng màu thuần nhất, không phát hiện tổn thương. Gẫy cung bên xương sườn 2, 3, 4, 7, 8, 9 bên phải. Khoang lồng ngực hai bên khô. Bề mặt phổi có nhiều mảngxuất huyết. Mặt cắt phổi xốp có nhiều dịch bọt. Bao tim còn nguyên vẹn, thượng tâm mạc cơ tim rải rác có chấm xuất huyết. Trong các buồng tim có ít máu loãng. Các van tim mềm mại, không phát hiện tổn thương. Lòng thực quản có ít máu loãng. Lòng khí phế quản có nhiều máu đông, máu loãng. Máu đông bịt tắc hoàn toàn hai phế quản gốc. Tụ máu mạc treo ruột. Tụ máu cuống lách, dập vỡ cực trên lách ngay sát rốn lách. Dạ dày có chứa nhiều thức ăn. Các tạng khác không phát hiện tổn thương.

Qua khám nghiệm tử thi anh Lý Văn Ch cho thấy:

Khám ngoài xác định: Tử thi là nam giới, được gia đình xác nhận là Lý Văn Ch, sinh năm 1991; trú tại: Bản Nh - xã X - huyện B - tỉnh L. Tử thi mặc ngoài áo sơ mi dài tay nền trắng, có nhiều hoa văn màu đen. Toàn bộ áo có bám dính nhiều máu thấm. Mặc quần dài màu ghi xám, mặt trước ống quần bên phải ngay sát đường chỉ may dọc phía trong và cách trên gấu quần 35cm có diện mài trượt và bám dính chất màu nâu kích thước (18x15)cm; mặt trước ống quần bên trái cách đường chỉ may dọc phía trong 5,5cm và cách trên gấu quần 30cm có vết rách vải hình thước thợ, cạnh dọc dài 1cm, cạnh ngang dài 1,4cm, bờ mép nham nhở, mở góc lên trên và sang trái, xung quanh mài trượt và bám dính chất màu nâu trên diện (17x17)cm. Thân quần phía sau bên trái đến nửa trên ống quần có bám dính chất màu nâu trên diện (35x20)cm. Trong mặc quần đùi màu đen. Trong cùng mặc quần lót màu xanh tím than. Chiều dài tử thi 1,6m. Thể tạng bình thường. Tình trạng tử thi: Xác mềm.

Các vết tổn thương cơ thể, cụ thể: Vùng đầu có tóc che phủ không phát hiện tổn thương. Vùng trán bên phải cách đường giữa 3cm và cách trên đường tóc trán 3cm có vết sây sát da không liên tục kích thước (2,5x2)cm. Hai mắt nhắm, sưng nề bầm tụ máu mắt phải và vùng gò má bên trái kích thước (9x8)cm, hai nhãn cầu không phát hiện tổn thương. Sờ nắn thấy lạo xạo xương mũi, xương hàm trên và xương hàm dưới. Bầm tụ máu môi trên và môi dưới, rách niêm mạc môi trên. Khuyết răng số 1, 2, 3, 4 hàm trên bên trái. Mũi miệng có máu chảy ra khi thay đổi tư thế. Vùng cổ trước đến vùng ngực và mặt trước hai vai có nhiều vết hằn và sây sát da kích thước (37x22)cm. Thành ngực vững. Vùng bụng không phát hiện tổn thương. Khung chậu vững. Bộ phận sinh dục không phát hiện tổn thương. Mu bàn tay phải rải rác có một số vết sây sát da trên diện (6x5)cm. Mặt sau nửa dưới cẳng tay trái đến cổ tay và mu bàn tay có nhiều vết sây sát, rách da nông trên diện (23x5)cm. Mặt trước trong đầu gối bên trái có vết thương rách da nằm ngang kích thước (9x3)cm, bờ mép nham nhở. Mặt trước toàn bộ cẳng chân trái có nhiều vết sây sát, rách da nông trên diện (37x9)cm.

Mổ tử thi: Giải phẫu vùng cổ, ngực, bụng phát hiện: Bầm tụ máu dưới da vùng cổ diện (10x6)cm. Bầm tụ máu khoang liên sườn số 1, 2 bên phải. Khoang lồng ngực hai bên khô. Bề mặt phổi và vùng rốn phổi có nhiều vết bầm dập, tụ máu, mặt cắt phổi có nhiều dịch bọt. Bao tim còn nguyên vẹn, thượng tâm mạc rải rác có các chấm xuất huyết. Trong các buồng tim có ít máu đông lẫn máu loãng. Lòng thực quản có ít mãu loãng. Lòng khí phế quản có nhiều dịch bọt lẫn máu đông và máu loãng làm bít tắc hoàn toàn hai phế quản gốc. Khoang ổ bụng có chứa ít máu loãng. Mặt gan nhẵn, không phát hiện tổn thương. Tụ máu các mạc treo ruột. Tụ máu vùng cuống lách, rách vùng rốn lách kích thước (1x0,2)cm. Dạ dày có chứa thức ăn và rau chưa tiêu hóa. Các tạng khác không phát hiện tổn thương.

Quá trình khám nghiệm tử thi, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Th (Nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Th) đã tiến hành thu mẫu máu của anh Đ và anh Ch để phục vụ giám định.

Khám xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu trắng, biển kiểm soát 28H1-328.26 phát hiện các dấu vết: Nắp ốp bên phải phía trước và đèn pha gãy rời khỏi ốp nhựa; mặt đèn pha có dấu vết trượt bám chất màu trắng diện (14x7)cm; mặt trước nửa bên trái lắp ốp trước tay lái có diện dấu vết trượt kích thước (14x7)cm; vỡ mất mảnh toàn bộ lắp ốp phía trước và cánh yếm bên trái, vỡ mất mảnh lắp ốp phía trên cánh yếm bên phải. Nửa bên trái đế kim loại, phía trước vị trí bình ắc quy có dấu vết biến dạng cong về sau ép sát vào vỏ bình. Cụm dây điện phía trước bình ắc quy này có dấu vết trượt (9x2)cm, cách mặt đất 65cm; bề mặt vỏ bọc tai dây tại vị trí này có vết rách lộ vỏ màu hồng bên trong diện (4x1,2)cm. Vỡ mất mảnh chắn bùn phía trước còn lại nửa phía sau và góc sau bên phải nửa phía trước chắn bùn; bánh trước và hai giảm xóc có dấu vết xoay vặn sang phải và kẹt cứng; mặt lăn lốp bánh trước ép sát vào tấm che phía sau mặt trước ngoài đầu bên trái trạc ba có dấu vết trượt có dính chất màu trắng diện (4x3)cm, cách mặt đất 52cm. Mặt trước ngoài giảm sóc bên trái trước có dấu vết trượt mất sơn bạc diện (21,5x5)cm, cách mặt đất 24cm và cao nhất cách mặt đất 43,5cm. Đĩa phanh có dấu vết biến dạng cong ra phía ngoài, cạnh đĩa phanh và mặt phía trong có dấu vết trượt bám chất màu trắng diện (13x4)cm. Vị trí dấu vết trượt tương ứng cách chữ “GSK min.TH” tại mặt ngoài của đĩa phanh. Vành bánh trước có dấu vết gãy 4 thanh chắn vị trí vết gãy gần sát trục vành; bên trái vành có dấu vết biến dạng lõm từ mép vành vào trục diện (15x3)cm, vị trí lõm sâu nhất cách chân van 9cm ngược chiều quay tiến bánh xe. Trên bề mặt mép vành tại vị trí dấu vết này về phía ngược chiều quay tiến bánh có dấu vết trượt, xước mất sơn bạc kích thước (28x0,5)cm; mặt lăn lốp bánh trước sát mép bên trái và một phần mặt thành lốp bên trái tương ứng vị trí vành trên có dấu vết trượt bám chất màu trắng diện (35x11)cm. Khung đầu xe có dấu vết dồn đẩy về phía sau, mặt sau khung cách đầu mõm yên 13cm; đầu tay lái về phía dấu vết xước mất sơn đen diện (1x0,5)cm. Vỡ bung ốp nhựa bên dưới sàn để chân, mặt trước bàn để chân bên phải phía sau xước diện (11,5x2,5)cm. Mặt ngoài ốp khung sườn và ốp nhựa dưới bàn để chân bên phải có dấu vết bám chất màu nâu đỏ diện (60x45)cm, mặt ngoài ốp ống xả có dấu vết xước diện (9x3,5)cm. Mặt trước dưới phần đầu tay lái, bên trái có dấu vết trượt kích thước (2x1,7)cm. Chiều từ trong ra ngoài, mặt trước đầu tay phanh bên trái có dấu vết trượt, kích thước (0,8x0,7)cm.

Khám xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios màu nâu vàng, biển kiểm soát 99A-432.94 phát hiện các dấu vết: Vỡ mất mảnh toàn bộ kính chắn gió và cánh cửa phía sau bên phải; góc trước trên và một phần cánh trên ô kính có dấu vết bám chất màu nâu đỏ và các sợi màu đen diện (80x73)cm. Trên bề mặt dấu vết này có nhiều dấu vết trượt xước. Trong diện dấu vết này có một số dấu vết xác định như sau:

Dấu vết 1: Dấu vết lõm trượt bám chất màu đen hình cong, nằm ngang hơi chéo diện (19x1)cm, dấu vết nằm ở phía trên vị trí tay nắm cửa cách cạnh dưới ô kính 11cm, cách mép cạnh sau cánh cửa 14cm.

Dấu vết 2: Lõm trượt cong nằm ngang hơi chéo, kích thước (23x0,6)cm, cách dưới dấu vết 1 là 2,4cm và cách cánh dưới ô kính 14,5cm; cách cạnh sau cánh cửa 14,5cm.

Dấu vết 3: Dấu vết trượt bám chất màu xanh kích thước (29,8)cm, các đường trượt nằm ngang, cách cạnh dưới ô kính 24cm.

Dấu vết 4: Dấu vết biến dạng, trượt xước bám nhiều dấu vết nàu nâu đen trắng, kích thước (13x11)cm, cách dưới ô kính 38cm và sát cạnh trước cánh cửa.

Dấu vết 5: Lõm trượt xước diện (6x7)cm, cách cạnh trước cánh cửa 9cm và sát cạnh trước cánh cửa.

Dấu vết 6: Dấu vết trượt xước, mặt sơn và bám chất màu đen, kích thước (36x6)cm; Dấu vết sát cạnh dưới cánh cửa, cách cạnh trước 12,5cm, mặt trước dấu vết này trên bề mặt cánh cửa có mắc 01 mảnh nhựa, màu trắng diện (24x15x0,2)cm.

Mặt ngoài sườn xe bên phải, phía dưới cánh cửa này có dấu vết trượt, lõm, xước mất sơn và bám chất màu đen kích thước (57x8)cm, dấu vết sát với phía trước hốc phía sau bên phải và mặt dưới sườn xe, ngay trước dấu vết này, sườn xe có dấu vết rách biến dạng kích thước (25x9)cm, chiều hướng từ sau ra trước. Chốt ngoài cánh cửa này có dấu vết bung bật ra trước, mặt ngoài vỏ thành xe và phía trên hốc bánh sau và một phần cạnh đèn sau bên phải, dấu vết trượt kích thước (67x35)cm. Mặt trên bên phải nóc xe sát góc trên bên phải, cánh cửa sau bên phải dấu vết lõm, kích thước (38x7)cm, bề mặt dấu vết có vết trượt bám chất màu vàng. Mặt trước, bên phải cản trước có dấu vết xước, mất sơn và lớp bả kích thước (26x25)cm, chiều hướng từ trước về sau, từ trái sang phải, dấu vết ngay dưới đèn pha bên phải.

Quá trình khám phương tiện, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Th (Nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Th) đã thu giữ và niêm phong của Tân 01 thẻ nhớ màu đen có mặt ngoài ghi chữ Micro 32GB được lắp trên xe ô tô nêu trên, bên trong có ghi lại hình ảnh nội dung vụ việc để phục vụ công tác điều tra.

Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số: 1895/KL-KTHS ngày 25/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của anh Đinh Công Đ là ngạt do chấn thương vùng hàm mặt làm chảy máu vào đường thở.

Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số: 1896/KL-KTHS ngày 25/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của anh Lý Văn Ch là ngạt do chấn thương vùng hàm mặt làm chảy máu vào đường thở.

Tại bản Kết luận giám định số: 1812/KL-KTHS ngày 14/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: Mẫu máu ghi thu của Lý Văn Ch tìm thấy thành phần Ethanol (Cồn), nồng độ 181,08mg/100ml máu. Mẫu máu ghi thu của Đinh Công Đ tìm thấy thành phần Ethanol (Cồn), nồng độ 360,54mg/100ml máu.

Tại bản Kết luận giám định số: 1916/GĐCH-PC09 ngày 01/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: Dấu vết trượt tại mặt lăn lốp bánh trước trên xe mô tô biển kiểm soát 28H-328.26 có chiều từ mặt lăn vào vành, phù hợp với vết biến dạng, trượt, bám chất màu đen tại mặt ngoài sườn bên phải, dưới cánh cửa sau trên xe ô tô biển kiểm soát 99A-432.94. Dấu vết va chạm trên xe ô tô biển kiểm soát 99A-432.94 tại vị trí này có chiều biến dạng từ phải sang trái, chiều trượt từ sau ra trước. Vị trí này là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện. Dấu vết trượt tại mặt trước đầu tay lái bên trái trên xe mô tô biển kiểm soát 28H-328.26 có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái tay lái, phù hợp với vết lõm, trượt, bám chất màu đen tại mặt ngoài cánh cửa bên phải, phía sau trên xe ô tô biển kiểm soát 99A-432.94. Dấu vết va chạm trên xe ô tô biển kiểm soát 99A-432.94 tại vị trí này có chiều lõm từ phải sang trái, chiều trượt từ sau ra trước.

Với nội dung trên, bản Cáo trạng số: 29/CT-VKSTT ngày 25/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Th đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai nhận tại Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Th (Nay là Cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã Th) và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Th đã truy tố.

Cũng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Th thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm vẫn giữ nguyên quyết định của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Th đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm và miễn áp dụng toàn bộ hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C số: 270175018522 do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 14/9/2022. Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 chiếc thẻ nhớ màu đen có chữ Micro 32 GB lưu giữ hình ảnh liên quan đến vụ tai nạn và 01 chiếc USB chứa file ghi âm ghi hình hỏi cung đối với bị cáo.

Trong phần tranh luận, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Th công bố bản luận tội, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Riêng bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là đầy đủ và đúng theo quy định của pháp luật. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn T và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp và phù hợp với quy định của pháp luật.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng và lời khai của bị cáo tại phiên tòa. Thể hiện: Nguyễn Văn T, sinh năm 1990; trú tại: Thôn V - xã V - huyện xã Q - tỉnh B (Nay là thôn V - xã V - thị xã Q - tỉnh B) có giấy phép lái xe hạng C số: 270175018522 do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 14/9/2022, có giá trị đến ngày 14/9/2027. Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 03/11/2022, T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios màu nâu vàng, biển kiểm sát 99A- 432.94 chở anh Bùi Danh Th đi từ phường V - thành phố B - tỉnh B để về phố H - thị trấn H - huyện Th - tỉnh B (Nay là khu phố H - phường H - thị xã Th - tỉnh B). Đến 21 giờ 57 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô đến ngã tư Cầu H - thị trấn H - huyện Th (Nay là ngã tư Cầu H - phường H - thị xã Th) thì rẽ trái đi vào đường tỉnh lộ 280 hướng đi huyện Gi. Lúc này, anh Th phát hiện đi nhầm đường nên bảo T quay lại thì T đồng ý rồi điều khiển xe ô tô quay lại hướng về ngã tư Cầu H. Khi quay xe, Tân thấy đầu xe ô tô sát với bờ đê phía Bắc không đủ khoảng cách phía trước để tiếp tục tiến lên nên T điều khiển xe ô tô lùi lại. Quá trình lùi xe, T không chú ý quan sát hướng đi về huyện Gi dẫn đến xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu trắng, biển kiểm soát 28H1-328.26 do anh Đinh Công Đ điều khiển chở sau là anh Lý Văn Ch đã đâm vào cánh cửa phía sau bên phải của xe ô tô do T điều khiển làm anh Đ và anh Ch ngã ra đường. Hậu quả làm anh Đ và anh Ch bị thương và chết khi đang trên đường đi đến Trung tâm y tế huyện Th (Nay là Trung tâm y tế thị xã Th) cấp cứu, xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios màu nâu vàng, biển kiểm sát 99A- 432.94 và xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu trắng, biển kiểm soát 28H1-328.26 bị hư hỏng.

Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số: 1895/KLPY-PC09 ngày 25/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của anh Đinh Công Đ là ngạt do chấn thương vùng hàm mặt làm chảy máu vào đường thở.

Tại bản Kết luận giám định pháp y tử thi số: 1896/ KLPY-PC09 ngày 25/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của anh Lý Văn Ch là ngạt do chấn thương vùng hàm mặt làm chảy máu vào đường thở.

Bản thân bị cáo Nguyễn Văn T đã trên 18 tuổi và có đầy đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô tham gia giao thông khi chuyển hướng gây nguy hiểm cho người và phương tiện khác, đồng thời không chú ý quan sát phía sau khi lùi xe dẫn đến gây tai nạn giao thông làm chết 02 người đã vi phạm khoản 23 Điều 8, khoản 2 Điều 15 và khoản 1 Điều 16 Luật giao thông đường bộ. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Tân đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Vì vậy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Th truy tố bị cáo Nguyễn Văn T với tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng theo quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn công cộng, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, ảnh hưởng tới trật tự an toàn giao thông trên địa bàn.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng cũng như giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, bản thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tai nạn xảy ra cũng có một phần lỗi của người bị hại khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông mà trong máu có nồng độ cồn, cụ thể: Nồng độ cồn của anh Lý Văn Ch là 181,08mg/100ml máu, nồng độ cồn của anh Đinh Công Đ là 360,54mg/100ml máu. Sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã cùng với người dân đưa người bị hại đi cấp cứu rồi đến Công an huyện Th (Nay là Công an thị xã Th) trình báo sự việc, đồng thời đến thăm hỏi động viên bồi thường cho gia đình người bị hại mỗi gia đình số tiền 150.000.000 đồng. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, đồng thời tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải. Hơn nữa, đại diện gia đình người bị hại cũng đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo để cải tạo tại địa phương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khi lượng hình để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, lại có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù có điều kiện cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm vi phạm trật tự an toàn giao thông trong tình hình hiện nay.

Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự còn quy định hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với người phạm tội. Xét thấy, do bị cáo phạm tội với lỗi vô ý nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại Đinh Công Đ và Lý Văn Ch mỗi gia đình 150.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện gia đình người bị hại Đinh Công Đ và Lý Văn Ch có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường bất cứ khoản tiền nào khác. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của các đương sự nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Đối với hư hỏng của chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios màu nâu vàng, biển kiểm sát 99A- 432.94 và xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu trắng, biển kiểm soát 28H1-328.26. Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn T1 và chị Bùi Thị B là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe ô tô và xe mô tô nêu trên đã tự sửa chữa đồng thời không yêu cầu bị cáo phải bồi thường chi phí sửa chữa này. Tại phiên tòa hôm nay, ông T1 có mặt tại phiên tòa, còn chị B có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt đều không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản tiền nào khác. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của các đương sự nên Hội đồng xét xử cũng không đề cập xem xét.

Về vật chứng của vụ án: Sau khi tai nạn xảy ra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Th (Nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Th) đã tiến hành tạm giữ: 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios màu nâu vàng, biển kiểm soát 99A-432.94; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu trắng, biển kiểm soát 28H1-328.26; 01 giấy phép lái xe hạng C số: 270175018522, 01 chiếc thẻ nhớ màu đen có chữ Micro 32 GB lưu giữ hình ảnh liên quan đến vụ tai nạn và các giấy tờ liên quan đến các phương tiện để phục vụ công tác điều tra.

Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios màu nâu vàng, biển kiểm soát 99A-432.94 và các giấy tờ liên quan đến chiếc xe, quá trình điều tra có đủ căn cứ xác định: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1971 (Bố đẻ của bị cáo Nguyễn Văn T) là chủ sở hữu chiếc xe ô tô và giấy tờ nêu trên.Ông T1 có cho bị cáo T mượn xe ô tô trên để làm phương tiện đi lại. Hiện tại, ông T1 đang thế chấp xe ô tô trên tại Ngân hàng V để vay vốn. Ngày 26/12/2022, Ngân hàng V có công văn đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Th (Nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Th) trả lại xe ô tô trên cho ông T1. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Th (Nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Th) đã trả lại xe ô tô, kèm theo các giấy tờ liên quan cho ông T1 là phù hợp.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu trắng, biển kiểm soát 28H1-328.26, quá trình điều tra có đủ căn cứ xác định: Chị Bùi Thị B, sinh năm 1997 (Vợ của anh Đinh Công Đ) là chủ sở hữu của chiếc xe mô tô trên. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Th (Nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Th) đã trả lại xe mô tô, kèm theo các giấy tờ liên quan cho ông Đinh Công H (Người đại diện theo ủy quyền của chị B) là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C số: 270175018522 do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 14/9/2022 cho bị cáo Nguyễn Văn T là đúng theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định còn thời hạn sử dụng. Do bị cáo phạm tội với lỗi vô ý và Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên xem xét trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Đối với 01 chiếc thẻ nhớ màu đen có chữ Micro 32 GB lưu giữ hình ảnh liên quan đến vụ tai nạn. Đây là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 chiếc USB chứa file ghi âm ghi hình hỏi cung đối với bị cáo là tài liệu liên quan đến vụ án nên cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã V - thị xã Q - tỉnh B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về vật chứng của vụ án: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 (Một) giấy phép lái xe hạng C số: 270175018522 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 14/9/2022.

Lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 (Một) chiếc thẻ nhớ màu đen có chữ Micro 32 GB lưu giữ hình ảnh liên quan đến vụ tai nạn và 01 (Một) chiếc USB chứa file ghi âm ghi hình hỏi cung đối với bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng người đại diện hợp pháp của người bị hại và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ