vanban.org

Bản án 39/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Phú Xuyên, TP. Hà Nội Tuyên án 07/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Tường K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Phạt bị cáo Phạm Tường K 15 ( Mười lăm ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2023. Tiếp tục giam bị cáo để hỗ trợ công tác thi hành án. ( Có quyết định tạm giam kèm theo ). Án xử công khai sơ thẩm, báo bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Tường K tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Tường K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ XUYÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HS ST
Ngày: 07/7/2023.
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Văn Phong.

Các hội thẩm nhân dân: Hoàng Văn Long và Đỗ Quang Huy;

- Ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thu Uyên – Thư ký Tòa án.

- Đại diện VKSND tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh Hải – KSV.

Mở phiên tòa ngày 07 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2023/TLST - HS ngày 15 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXXST – HS, ngày 16 tháng 6 năm 2023 đối với:

Bị cáo: Phạm Tường K, sinh năm 1968; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn T, xã N, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 7/10; Là con ông Phạm Phúc P và bà Lê Thị T; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2023 đến nay. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam số 02 – Công an TP Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Cáo trạng của VKSND và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Tường K ở thôn T, xã T ( nay là xã N ), huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội vốn là người nghiện ma tuý và thường xuyên mua ma túy loại Heroin về sử dụng. Khoảng 8 giờ ngày 26/02/2012 K đi nhờ xe đến khu vực hồ Tía thuộc địa phận xã Tô hiệu, huyện Thường Tín mua 01 gói ma tuý của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000đ rồi cầm gói ma tuý đi về nhà Bùi Thanh S ở thôn T, xã T, huyện Phú Xuyên để sử dụng. Tại nhà S, K thấy S và một người tên Nguyễn Văn L trú tại thôn C, xã N đang ngồi chơi, K đề nghị S cho K sử dụng ma tuý tại nhà S thì S đồng ý. K liền lấy gói ma tuý vừa mua cho một ít vào giấy bạc rồi đốt nóng phía dưới sau đó cùng L hít vào cơ thể. Thấy S ngồi xem, K liền nhờ S ra sân trông người và hứa sẽ cho S tiền uống rượu.

Khi K và L đang sử dụng ma tuý thì bị công an xã T ập vào bắt quả tang. Lợi dụng lúc lộn xộn, Phạm Tường K chạy thoát và bỏ trốn.

Tang vật thu được tại hiện trường gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng có diện khoảng (01x0,5)cm, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma tuý; 01 mảnh giấy nilon màu đen diện (4x4) cm; 03 mảnh giấy bạc có kích thước (3x3) cm; 03 bật lửa ga.

Tại kết luận giám định số 1557/PC54 ngày 21/3/2012 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: 01 gói chất bột màu trắng là bột Heroin khối lượng 0,154 gam.

Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Phú Xuyên đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Bùi Thanh S về tội “Chứa chấp người khác sử dụng trái phép chất ma tuý”, khởi tố bị can đối với Phạm Tường K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và ban hành quyết định truy nã đối với Phạm Tường K.

Sau hơn 10 năm lẩn trốn, ngày 04/4/2023 Phạm Tường K đến Công an xã N, huyện Phú Xuyên đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số 35/CT - VKS ngày 11/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên truy tố bị cáo Phạm Tường K ra trước tòa để xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên giữ nguyên quan điểm về tội danh, điều luật áp dụng theo nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2023; Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận; Lời nói sau cùng của bị cáo là đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên, của Điều tra viên và Kiểm sát viên cùng những người tiến hành tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan và của người tiến hành tố tụng...do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với nội dung kết luận của cơ quan điều tra, Cáo trạng của Viện kiểm sát, phù hợp lời khai của chính bị cáo trong quá trình điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ như: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, Sơ đồ hiện trường, Biên bản niêm phong vật chứng, Kết luận giám định, Biên bản người phạm tội ra đầu thú... Chứng tỏ đã có đủ căn cứ để khẳng định: Khoảng 9h ngày 26/02/2012, tại nhà Bùi Thanh S thuộc địa phận thôn C, xã T, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Phạm Tường K đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,154 gam Heroin mục đích để sử dụng cho bản thân và cho người khác thì bị Công an xã T bắt quả tang.

Mặc dù bị cáo phạm tội tại thời điểm 26/02/2012 nhưng do Khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định một hình phạt nhẹ hơn so với Khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999; Mặt khác, tại thời điểm diễn ra hành vi phạm tội, Phạm Tường K và Nguyễn Văn L đều là đối tượng nghiện ma tuý, thuộc trường hợp “Người nghiện ma tuý có chất ma tuý cho người nghiện ma tuý khác để cùng sử dụng trái phép thì không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý..” được quy định tại điểm a khoản 6.2 Điều 6 thông tư 17/2007/TTLT – BCA-VKSTC- TANDTC- BTP… Vì vậy, việc bị cáo Phạm Tường K bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên truy tố ra trước Tòa để xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 1015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất ma tuý, là nguồn cơn làm phát sinh các loại bệnh tật và tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an địa phương... khiến dư luận bất bình, đòi hỏi phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự với một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo nhận thức sâu sắc về tội lỗi của mình mà ăn năn hối cải về sau và cũng là để làm gương cho những kẻ khác.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt:

Do Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nên khi quyết định hình phạt có cân nhắc đến việc bị cáo trong quá trình tố tụng thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải, sau khi bỏ trốn đã ra đầu thú là tình tiết quy định tại điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà giảm nhẹ một phần hình phạt để chứng tỏ sự nhân đạo của Pháp luật.

Về hình phạt bổ sung và các vấn đề liên quan:

Do bị cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định...nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với Bùi Thanh S bị Toà án nhân dân huyện Phú Xuyên xử 08 năm tù về tội “Chưa chấp người khác sử dụng trái phép chất ma tuý” tại bản án số 39/2012/HSST ngày 26/7/2012 nên không xét;

Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Văn L đã bị Công an huyện Phú Xuyên đã ra quyết định xử lý hành chính ngày 29/2/2012 bằng hình thức phạt cảnh cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho K, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành điều tra xác minh nhưng không làm rõ được nhân thân lai lịch của người đàn ông này nên không có căn cứ để xử lý hình sự.

Vật chứng của vụ án đã được xử lý tại bản án số 39/2012/HSST ngày 26/7/2012 của Toà án nhân dân huyện Phú Xuyên nên không xét.

Ngoài hình phạt, bị cáo Phạm Tường K còn phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Tường K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Khoản 3 Điều 7; Điều 38; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử:

Phạt bị cáo Phạm Tường K 15 ( Mười lăm ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2023. Tiếp tục giam bị cáo để hỗ trợ công tác thi hành án. ( Có quyết định tạm giam kèm theo ).

4. Áp dụng Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy ®Þnh vÒ mức thu, miÔn, gi¶m, thu nép, qu¶n lý vµ sö dông ¸n phÝ vµ lÖ phÝ Tßa ¸n: Buộc bị cáo Phạm Tường K phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Cỡ chữ