- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Duy B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lê Duy B phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2023/HSST Ngày: 09/5/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thành Đô;
Bà Lê Thị Thận
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 43/2023/HSST ngày 04 tháng 4 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2023/ QĐXXST – HS ngày 20 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:
Lê Duy B (tên gọi khác: B Súng), sinh năm 19xx, tại tỉnh Kom Tum.
Căn cước công dân số: Không thu thập được
Nơi cư trú: Thôn X, xã N, huyện B, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh H và bà Nguyễn Bích T; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày XX/6/2013, Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh B xử phạt Lê Duy B 24 tháng tù về Tội vận chuyển trái phép chất ma túy, quy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.
Ngày xx/9/2015, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước xử phạt Lê Duy B 18 tháng tù giam về Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.
Ngày xx/9/2017, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước xử phạt Lê Duy B 03 năm 06 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản, quy định tại Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Bị cáo kháng cáo đến ngày 13/11/2017, Tòa án nhân dân tỉnh B xử phúc thẩm giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm ngày 06/9/2017, xử phạt xử phạt B 03 năm 06 tháng tù, đến ngày 29/8/2020 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và toàn bộ Bản án. Đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/10/2022 cho đến nay, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 10/10/2022, Lê Duy B đến quán cà phê võng ở Cầu Hai thuộc thành phố Đồng Xoài gặp một người phụ nữ tên Dung (không rõ nhân thân, lý lịch) mà B đã quen trước đây nhờ mua giùm (hộ) ma túy loại Heroin về để sử dụng. B đưa cho Dung 200.000 đồng, Dung cầm tiền rồi điều khiển xe mô tô đi mua. Khoảng 15 phút sau, Dung quay lại đưa cho B 01 gói thuốc Hòa Bình (bên ngoài gói thuốc có 01 đoạn ống hút được hàn kín hai đầu có chứa ma túy). B cầm ma túy đi vào nhà vệ sinh, rồi lấy đoạn ống hút trên ra cắt một đầu để đổ một ít ma túy trong ống hút vào 02 kim tiêm có chứa nước sẵn, B sử dụng 01 cây kim tiêm có chứa ma túy để chích vào tay. Chích xong, B hàn ống hút lại để bên ngoài gói thuốc, rồi bỏ gói thuốc và 03 cây kim tiêm (trong đó có 01 cây kim tiêm đã pha sẵn ma túy) B cất trong túi quần bên trái, rồi đón xe khách đi về nhà. Khi B về đến cổng nhà thì bị Công an xã Nghĩa Trung đến kiểm tra, phát hiện trong túi quần trái của B đang mặc có ma túy. Thấy có dấu hiệu tội phạm, nên Công an xã Nghĩa Trung đã lập biên bản bắt người quả tang, thu giữ 01 đoạn ống hút bên trong có chứa chất bột màu trắng, 01 kim tiêm bên trong có chứa chất lỏng và niêm phong tang vật (ký hiệu M, M1 có chữ ký của B). Sau đó, Công an xã Nghĩa Trung giao hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Kết luận giám định số: 236/KL(MT)-KTHS ngày 18/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Phước, kết luận:
+ Chất màu trắng (ký hiệu M có chữ ký của B) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,1376 gam.
+ Chất lỏng (ký hiệu M1 có chữ ký của B) bên trong bơm kim tiêm được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroin. Mẫu không đủ để tiến hành định lượng xác định hàm lượng chất ma túy.
- Về vật chứng vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng đã xử lý: Số ma túy còn lại sau giám định đã chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng để phục vụ quá trình truy tố, xét xử.
Tại Cáo trạng số 47/CT –VKS.BĐ ngày 03/4/2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Lê Duy B về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Duy B phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về hình phạt, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Duy B từ 15 đến 18 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người nghiện ma tuý, không có thu nhập nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lê Duy B thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 10/10/2022, bị cáo Lê Duy B đến gặp một người phụ nữ tên Dung (không rõ nhân thân, lý lịch) ở quán cà phê võng gần khu vực “Cầu Hai” thuộc thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước mua 200.000 đồng ma túy loại Heroin, có khối lượng 0,1376 gam để sử dụng. Khi B mang về nhà ở Thôn X, xã N, huyện B, tỉnh B thì bị Công an xã Nghĩa Trung kiểm tra, phát hiện bắt quả tang người cùng tang vật.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm và hành vi phạm tội.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Lê Duy B đã phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroin có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, do lối sống buông thả, dẫn đến nghiện ma túy nên mặc dù nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật, là nguyên nhân có thể gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bản thân bị cáo đã từng có 03 lần phạm tội, bị Toà án xét xử, mặc dù đã được xóa án tích nhưng vẫn bị coi là có nhân thân không tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015.
Xét toàn bộ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Cần tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì có ký hiệu 236; 236M1 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì ngoài hình phạt chính thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, do bị cáo là người nghiện ma túy không có thu nhập ổn định nên miễn chấp hành hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Đối với người phụ nữ tên Dung bán ma túy cho B, không xác định được nhân thân, lý lịch, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Đăng tách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lê Duy B phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Lê Duy B 01 năm, 06 tháng tù (một năm, sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2022
[2] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tuyên tịch thu tiêu hủy Số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì có ký hiệu 236; 236M1 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Phước.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng số 0010xxx ngày 06/3/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Đăng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng)
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Duy B phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - Viện kiểm sát ND tỉnh Bình Phước. - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước; - Công an tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện Bù Đăng; - CCTHADS huyện Bù Đăng; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Thanh |