- Tranh chấp gì? án hình sự — "157 - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Q phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 157 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2023/HS-ST Ngày 10 tháng 7 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Bân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Phước và ông Tạ Đình Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Ý – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phúc Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Phước Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ t ẩm thụ lý số: 33/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2023/QĐXXST – HS ngày 27 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn Q, sinh năm 1990, nơi sinh: Ninh Bình, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Thiên chúa giáo, HKTT: Thôn Đ, xã Thạch B, huyện N, tỉnh Ninh Bình, Giới tính: Nam, Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 01/12, Tiền án: 01 (Bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình xử phạt 20.000.000 đồng về tội Đánh bạc tại bản án hình sự sơ thẩm số 23/2018/HS-ST ngày 23/4/2018) tiền sự: Không; Họ và tên cha: Bùi Văn Tinh, sinh năm 1961; Họ và tên mẹ: Đinh Thị Tuyên, sinh năm 1961; Họ và tên vợ: Hoàng Thị Tười, sinh năm 1997. Bi cáo bị tạm giữ từ ngày 29/11/2022 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 2004, địa chỉ: Thôn 2, xã Đakia, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)
Người có Q lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hồ Thành D, sinh năm 2007, địa chỉ: thôn Tân Bình, xã Bù Nho, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ quen biết nhau nên vào năm 2021 Nguyễn Thị Kim T, sinh ngày 02/6/2004; ở thôn 2, xã Đa Kia, huyện Bù Gia Mập đã vay của Bùi Văn Q số tiền 5.000.000 đồng (theo lời khai của Tuyền là năm triệu đồng, lời khai của Q là 25.000.000 đồng). Sau đó Tuyền không trả tiền cho Q mà chuyển nơi ở trọ để ở mà không cho Q biết. Đến hẹn, Q đi tìm Tuyền để đòi nợ và được Vy (chưa rõ nhân thân lai lịch) nói là biết chỗ ở của Tuyền ở khu phố 4, phường Long Phước, thị xã Phước Long.
Khoảng 13 giờ ngày 12/5/2022, Q thuê xe Taxi hiệu Mitsubishi Xpander, biển số: 49A-478.86 của anh Lương Thành Huy, ở khu phố 5, phường Tiến Thành, thành phố Đồng Xoài chở Vy và Q đi thị xã Phước Long. Sau đó Q rủ thêm Đinh Văn Vương, ở khu phố Phú Cường, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài; Nguyễn Huy Hoàng, ở khu phố Phú Cường, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài và Nghiêm Thị Quỳnh Như, ở khu phố Phú Cường, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài (cả ba ở cùng nhà trọ với Q) đi đến thị xã Phước Long chơi. Trên đường đi Q điện thoại và ghé ngã tư Phú Riềng thuộc xã Phú Riềng, huyện Phú Riềng, Bình Phước đón thêm Hồ Thành D, sinh ngày 14/4/2007; ở thôn Tân Bình, xã Bù Nho, huyện Phú Riềng, Đặng Nhật Khoa, ở thôn Phú Thịnh, xã Phú Riềng, huyện Phú Riềng, Tôn Thất Kim Điền, ở thôn Phú Hưng, xã Phú Riềng, huyện Phú Riềng và Võ Văn Trường, ở ấp Thuận Thành, xã Thuận Lợi, huyện Đồng Phú đến thị xã Phước Long để uống cà phê. Khoảng 14 giờ cả nhóm tới Thị xã Phước Long đoạn đường ĐT 741 thuộc khu phố 4, phường Long Phước thì Vy nói Q kêu xe ô tô dừng lại. Sau đó Vy chỉ phòng trọ của Tuyền cho Q. Q đi vào phòng trọ của Tuyền thấy Tuyền đang nằm trong phòng trọ một mình. Tuyền biết là Q đến tìm để đòi nợ nên Tuyền không nói gì. Sau đó tất cả đi đến quán cà phê “Võng” của chị Đinh Thị Hằng Nga ở khu phố 7, phường Long Phước. Tại đây, tất cả cùng ngồi, nằm võng uống nước, rồi Q dẫn Tuyền đi vào nhà vệ sinh của quán, Danh đi theo sau. Tại đây, Q đã dùng tay tát vào mặt của Tuyền 02 cái, chửi Tuyền và ép Tuyền khi ra ngoài phải viết giấy mượn nợ của Q với số tiền 25.000.000 đồng. Sau đó Q, Tuyền và Danh quay lại chỗ mọi người đang ngồi uống nước. Tại đây Q đã mượn bút và giấy của chị Nga rồi đọc cho Tuyển viết giấy nợ với nội dung Tuyền vay của Q số tiền 25.000.000đ. Sau khi viết xong Q kêu Hoàng đi mua hộp mực để Tuyền lăn tay, còn Vy thì ký người làm chứng. Sau đó Q lấy điện thoại di động ra quay video và nói với Tuyền “em lên Đồng Xoài chơi với anh nha”, Tuyền không đồng ý, rồi Q tiếp tục quay và nói “em lên Đồng Xoài chơi với anh nha”. Do sợ Q sẽ đánh đập nên Tuyền đã đồng ý. Sau đó tất cả lên xe Taxi biển số: 49A-478.86 của anh Huy đi về thành phố Đồng Xoài. Trên đường đi Q đã điện thoại và hẹn gặp Đinh Văn Giang, ở phường Tân Đồng, thành phố Đồng Xoài tại quán cà phê “MILANO” trên đường Lê Duẫn thuộc thành phố Đồng Xoài. Tại đây Q đã dùng chân đạp Tuyền 01 cái vào bụng, thấy vậy Giang đã can ngăn và hỏi Q lý do đánh Tuyền. Sau đó Q nói cho Giang biết sự việc, do biết với anh Nguyễn Văn Chương, ở thôn 6, xã Long Hà, huyện Phú quen Riềng (là quản lý quán Karaoke 999 tại thôn Tân Phước, xã Bù Nho), Giang đã điện thoại nói cho Chương biết là Tuyền đang nợ Giang số tiền 27.000.000₫ (Chương có muốn tuyển nhân viên thì trả số tiền trên để nhận Tuyền vào làm nhân viên cho Chương, vì Tuyền không có tiền và muốn đi làm nhân viên cho các quán karaoke để trả nợ dần” và thỏa thuận Chương trả cho Giang số tiền 27.000.000₫, Giang sẽ đưa Tuyền đến làm cho Chương. Sau đó Giang nói cho Q biết, Q kêu xe taxi chở Q, Tuyền, Danh và Khoa đi đến quán Karaoke 999. Khi đến nơi thì Danh và Khoa ngồi trên xe, còn Q thì dẫn Tuyền vào trong quán gặp Nguyễn Văn Trung, ở thôn 3, xã Long Tân, Phú Riềng (là nhân viên của quán), Nguyễn Thị Kim Vân ở thôn Tân Phước, xã Bù Nho, Phú Riềng (là kế toán của quán), Q đã giao Tuyền cho Trung và Vân quản lý. Sau đó Vân dẫn Tuyền vào phòng ở của nhân viên. Tại đây Tuyền hỏi Vân cho mượn số tiền 27.000.000đ để trả nợ, Tuyền sẽ ở lại quán để làm nhân viên và trả dần số nợ, nghe vậy thì Vân đồng ý. Sau đó Tuyền đã mượn điện thoại của 01 nữ nhân viên ở cùng phòng điện cho Võ Tấn Tài ở khu phố 4, phường Long Phước, thị xã Phước Long (là bạn của Tuyền) kể lại toàn bộ sự việc, anh Tài đã đến Công an phường Long Phước để trình báo. Sau khi tiếp nhận vụ việc Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phước Long đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác minh ghi lời khai các đối tượng, bị hại và những người có liên quan, đồng thời tạm giữ những đồ vật có liên quan đến vụ việc. (bút lục 135 đến 142; 202 đến 207) Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phước Long Bùi Văn Q và Hồ Thành D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại bản cáo trạng số 36/CTr – VKS ngày 15/5/2023 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long đã truy tố bị cáo Bùi Văn Q về tội Bắt, giữ người trái pháp luật theo điểm e, khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành Q công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn Q phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại điểm e, khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Bùi Văn Q mức án 03 (Ba) năm tù đến 03(ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tại phiên Tòa: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã Phước Long, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm Q, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên toà bị cáo thừa nhận: Do thiếu hiểu biết pháp luật, muốn đòi được nợ một cách nhanh chóng nên ngày 12/5/2022 bị cáo Bùi Văn Q và Hồ Thành D đã ép Nguyễn Thị Kim T sinh ngày 02/6/2004 đi từ thị xã Phước Long về thành phố Đồng Xoài để giải quyết chuyện Tuyền nợ Q số tiền 25.000.000 đồng. Q và Danh đã dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực ép Tuyền đi cùng trái với ý muốn của Tuyền (từ 14 giờ chiều đến tối ngày 12/5/2022) nhằm gây áp lực để Tuyền tìm cách trả tiền cho Q. Tại thời điểm Tuyền bị Q bắt, giữ Tuyền mới 17 tuổi 11 tháng 22 ngày (chưa đủ 18 tuổi). Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với vật chứng thu được; phù hợp với lời khai của bị hại; lời khai người làm chứng và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e, khoản 2 Điều 157 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Hành vi của bị cáo Bùi Văn Q là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến Q tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Do đó bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm để răn đe, giáo dục nhằm giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Bình xử phạt 20.000.000 đồng về tội Đánh bạc tại bản án hình sự sơ thẩm số 23/2023/HS-ST ngày 23/4/2018 (chưa được xóa án tích), nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
. Đối với Hồ Thành D, ngày 12/5/2022 Q điện thoại rủ Danh đi lên thị xã Phước Long lấy tiền. Danh là người trực tiếp giúp sức cho Q đưa Tuyền vào nhà vệ sinh để Q đánh đập Tuyền và ép Tuyền viết giấy nợ. Hành vi của Danh là đồng phạm với vai trò giúp sức để Q thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên tại thời điểm xảy ra tội phạm ngày 12/5/2022, Danh mới chỉ đủ 15 tuổi 28 ngày (Danh sinh ngày 14/4/2007) nên Danh chưa đủ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 12 Bộ luật hình sự đối với tội “Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật” nên không đề cập xử lý đối với Hồ Thành D là đúng quy định.
Đối với Đặng Nhật Khoa, Võ Văn Trường, Tôn Thất Kim Điền, Nguyễn Huy Hoàng, Đinh Văn Vương, Nguyễn Thị Quỳnh Như, Đinh Văn Giang, Nguyễn Văn Chương, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Thị Kim Vân, Lương Thanh Huy, Nguyễn Văn Cường và Vy (chưa rõ nhân thân lai lịch) những đối tượng này không biết việc Q bắt, giữ Tuyền nên không đề cập xử lý là đúng quy định.
. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Đối với quan điểm của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định tại Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1]. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Q phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.
Áp dụng điểm e, khoản 2 Điều 157, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt Bùi Văn Q 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/11/2022.
Tiếp tục tạm giam bị cáo để thi hành án.
[2]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp số tiền 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[3]. Về Q kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được Q kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người bị hại, người có Q lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có Q kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Bình Phước; - VKSND Tỉnh Bình Phước - CA thị xã Phước Long; - VKS thị xã Phước Long - THA thị xã Phước Long; - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác; - THAHS thị xã Phước Long; - HSVA Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XƯ SƠ THẨM THẨM PHÁN –CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ HOÀNG NGỌC BÂN |