- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Thế V phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 L…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Thế V phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG ——————— Bản án số: 39/2023/HS-ST Ngày 03-3-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
2. Ông Tô Văn Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 398/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 42/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Đinh Thế V, sinh năm 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thƣờng trú: Số 409, N Phƣờng 2, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nam; con ông Đinh Minh Q, sinh năm 1959 (đã chết) và bà Phạm Thị Tuyết N, sinh năm 1962; vợ tên Trƣơng Thị Ngọc L, sinh năm 1992; có 01 con sinh năm 2009; có 01 em ruột, sinh năm 1990; bị cáo đƣợc áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú từ ngày 28/5/2022 đến nay, có yêu cầu giải quyết mặt.
- Bị hại:
1/ Danh Thị Thảo N, sinh năm 2004 – hiện đã chết.
Người đại diện hợp pháp: Ông Danh Hoàng M, sinh năm 1982 và bà Trƣơng Thị D, sinh năm 1983; cùng thƣờng trú: Ấp 2, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau. Vắng mặt.
2/ Phạm Thị Cẩm N, sinh năm 2003; thƣờng trú: Ấp B, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
Bị đơn dân sự: Công ty Cổ phần khoan và xây lắp cấp T; trụ sở: Số 10, P, Phƣờng 2, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngƣời đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Ngọc Q – Chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Phạm Thanh Việt, sinh năm 1981; thƣờng trú: Ấp B, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
2/ Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1985; thƣờng trú: Ấp B, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.
3/ Nguyễn Hoàng S, sinh năm 1999; thƣờng trú: Ấp N, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đinh Thế V đã có giấy phép lái xe ô tô hạng B2, đƣợc Sở giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp số 790173117361 ngày 21/6/2017, có giá trị đến ngày 21/6/2027 và là lái xe cho Công ty Cổ phần khoan và xây lắp cấp T (sau đây gọi tắt là Công ty).
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 13/02/2019, Đinh Thế V điều khiển xe ô tô biển số 56N-3063 của Công ty đi trên đƣờng Mỹ Phƣớc – Tân Vạn, theo hƣớng Ngã ba T đi quốc lộ 1K. Khi đến Ngã tƣ giao lộ giữa đƣờng Quốc lộ 1K và đƣờng M thuộc khu phố C, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Lúc này, đèn giao thông có tín hiệu màu xanh, V điều khiển xe rẽ trái vào đƣờng Quốc lộ 1K để đi về hƣớng L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi V đang điều khiển xe rẽ trái thì có xe mô tô biển số 68G1-643.34 do Danh Thị Thảo N điều khiển phía sau chở chị Phạm Thị Cẩm N lƣu thông trên đƣờng Mỹ Phƣớc – Tân Vạn theo hƣớng Mỹ Phƣớc đi Tân Vạn chạy tới dẫn đến va chạm với xe ô tô của V. Phần đầu phía trƣớc bên trái xe ô tô biển số 56N-3063 đụng vào phần hông bên trái xe mô tô biển số 68G1-643.34 làm xe mô tô và chị Danh Thị Thảo N ngã trƣợt về phía trƣớc, đụng vào mảng bê tông ở góc ngã tƣ bên phải dẫn đến tai nạn giao thông.
Hậu quả: Chị Danh Thị Thảo N đƣợc đƣa đi cấp cứu đến ngày 14/02/2019 thì chết tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dƣơng. Gia đình đã đƣa chị N về mai táng và không báo với cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An.
Hiện trƣờng tai nạn xảy ra ngày 13/02/2019 thể hiện nhƣ sau:
- Đoạn đƣờng Ngã tƣ giao lộ Mỹ Phƣớc – Tân Vạn và Quốc lộ 1K nơi hiện trƣờng xảy ra tai nạn là đƣờng phẳng, mặt đƣờng rải nhựa; mặt đƣờng Quốc lộ 1K có giải phân cách chia 02 chiều đƣờng xe chạy.
Vị trí phƣơng tiện, tang vật, dấu vết đƣợc đánh số thứ tự:
+ Xe ô tô biển số 56N-3063 ký hiệu 01;
+ Xe mô tô biển số 68G1-643.34 ký hiệu 02;
+ Vết cày xe mô tô biển số 68G1-643.34 ký hiệu 3a, 3b;
+ Trụ đèn tín hiệu giao thông ký hiệu 04;
+ Góc ngã tƣ ký hiệu 05;
+ Dãy phân cách giữa đƣờng Mỹ Phƣớc – Tân Vạn ký hiệu 06;
+ Đầu dãy phân cách Quốc lộ 1K ký hiệu 7a, 7b;
+ Vết máu ký hiệu 08.
Lấy trụ đèn tín hiệu giao thông ký hiện 04 làm điểm mốc. Lấy mép đƣờng bên phải đƣờng Quốc lộ 1K theo hƣớng Ngã tƣ Bình Thung đi Đồng Nai.
- Xe ô tô biển số 56N-3063 sau tai nạn xe chạy tới phía trƣớc đỗ trong giao lộ Ngã tƣ, đầu quay về Ngã tƣ Bình Thung. Trục bánh trƣớc trái cách mép lề chuẩn là 11m80 và cách đầu dải phân cách đƣờng Quốc lộ 1K hƣớng về Ngã tƣ Bình Thung là 4m20, trục bánh sau bên trái cách mép lề chuẩn là 12m.
- Xe mô tô biển số 68G1-643.34 sau tai nạn, xe ngã đổ nghiêng về bên trái nằm trong giao lộ ngã tƣ đầu quay về hƣớng Ngã tƣ Bình Thung. Trục bánh trƣớc trái cách mép lề chuẩn là 0m50 và cách trục bánh sau bên trái xe ô tô là 11m90, trục bánh sau cách mép lề là 0m50 và cách góc ngã tƣ là 4m40, cách đầu dải phân cách đƣờng Mỹ Phƣớc – Tân Vạn hƣớng về Ngã ba Tân Vạn là 20m80. Xe để lại vết cày đứt quãng của tay cầm bên trái in trên đƣờng dài đến tay cầm trái là 6m90, đầu vết cày cách mép lề chuẩn là 6m20. Ngoài ra, xe còn để lại vết cày đứt quãng của gác chân trƣớc bên trái in trên đƣờng dài đến gác chân trƣớc bên trái của xe là 3m60, đầu vết cày cách mép lề chuẩn là 3m70.
- Chiều rộng mặt đƣờng Quốc lộ 1K là 22m80, chiều rộng mặt đƣờng Mỹ Phƣớc – Tân Vạn là 27m60.
Tại biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan thể hiện:
+ Xe ô tô biển số 56N-3063: Biển số trƣớc, Logo “Toyota”, cản trƣớc phía trƣớc có vết trầy xƣớc sơn, chiều hƣớng vết trầy xƣớc từ phải qua trái. Ngoài ra, phía dƣới cản trƣớc có vết trầy xƣớc sơn, hằn lún sâu, chiều hƣớng dẫn vết từ phải qua trái.
+ Đối với xe môtô biển số 68G1-643.34 có các dấu vết: Mũi dè trƣớc bị bể gãy rơi mất. Phần ốp mủ đầu đèn, đèn tín hiệu, đèn chiếu sáng bị bung súc bát. Chụp mủ đèn tín hiệu phía trƣớc bên phải có bám dính chất màu đen (dạng sơn) dính xi măng, Ốc bắt phuộc trƣớc dính xi măng. Ốp mủ hông đuôi xe bên trái có vết trầy xƣớc ơn kt 0,8cm x 23 cm, ống phuộc sau bên trái thụng móp kt 0,5cm x 0,4 cm, tâm vết thủng cách mặt đất 40cm.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 451/2021/GĐPY ngày 10/11/2021của Trung tâm pháp y- Sở y tế tỉnh Bình Dƣơng, đối với Danh Thị Thảo Nguyên nhƣ sau:
1. Các dấu hiệu chính: Chấn thƣơng sọ não mức độ nặng, xuất huyết lan tỏa bán cầu 2 bên, có dấu hiệu chết não lâm sàng: Bệnh nhân mê sâu, Glasgow 3 điểm, thở máy qua nội khí quản. Huyết áp 100/60mmHg, mạch 100 lần/phút. Chấn thƣơng sọ não, vỡ lõm sọ trán trái, biến dạng vùng mặt, sụp khối trán mũi, chảy máu mũi, biến dạng đùi phải, gãy xƣơng đùi phải, vết thƣơng cổ, bàn chân phải. Đồng tử 2 mắt 5mm, phản xạ ánh sáng (-). Phản xạ mắt búp bê (-). CT Scan: Gãy phức tạp xƣơng vùng trán và vùng hàm mặt. Đụng dập tụ máu nhu mô não vùng trán 2 bên. Xuất huyết dƣới nhện rải rác. Xuất huyết não thất 2 bên. Xuất huyết liềm đại não. Tụ khí nội sọ. Đến ngày 14/02/2019: Huyết áp 00/00mmHg, bệnh nhân ngƣng tim, ngƣng thở, ghi nhận tử vong trong bệnh viện.
2. Nguyên nhân tử vong: Căn cứ trên hồ sơ, cho phép nhận định: Nạn nhân Danh Thị Thảo N bị chấn thƣơng mức độ nặng, dập não xuất huyết lan tỏa, không phục hồi sau cấp cứu, chết não lâm sàng dẫn đến tử vong.
* Đối với bị cáo Đinh Thế V sau khi khám nghiệm xong hiện trƣờng vụ tai nạn không đến Cơ quan điều tra làm việc. Đến ngày 25/02/2019, bị cáo V mới đến Cơ quan Cảnh sát điều tra làm việc. Vì vậy, Cơ quan điều tra không tiến hành xét nghiệm nồng độ cồn và các chất kích thích trong máu của bị cáo V đƣợc.
* Đối với chị Phạm Thị Cẩm N, sau khi khởi tố không đến Cơ quan điều tra để làm việc và giám định tỷ lệ thƣơng tích. Chị N bỏ địa phƣơng đi đâu, làm gì địa phƣơng và gia đình không biết. Làm việc với ông Phạm Thanh V là cha của chị N, ông V cũng không biết hiện nay chị N làm gì ở đâu. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An không tiến hành giám định tỷ lệ thƣơng tích của chị Phạm Thị Cẩm N đƣợc. Đối với anh Nguyễn Hoàng S là ngƣời đứng tên chủ sở hữu xe môtô biển số 68G1-643.34, anh S giao xe cho chị Phạm Thị Cẩm N sử dụng. Sau khi khởi tố vụ án, anh S không đến Cơ quan điều tra để làm việc, hiện anh S bỏ địa phƣơng đi đâu không rõ. Việc anh Nguyễn Hoàng S giao xe cho chị Phạm Thị Cẩm N (chị N không có giấy phép lái xe), sau đó chị N giao xe cho chị Danh Thị Thảo N (N không có giấy phép lái xe) thể hiện tại biên bản ghi lời khai của anh Sơn và chị N ngày 22 và 25/02/2019. Tuy nhiên, không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với anh Nguyễn Hoàng S về tội “Giao cho ngƣời không đủ điều kiện điều khiển phƣơng tiện tham gia giao thông đƣờng bộ” vì lỗi chính trong vụ tai nạn là Đinh Thế V gây ra. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đề nghị chuyển Đội cảnh sát giao thông trật tự ra Quyết định xử lý hành chính về hành vi: Giao xe cho ngƣời không đủ điều kiện điều khiển phƣơng tiện tham gia giao thông đƣờng bộ.
* Về trách nhiệm dân sự: Ngày 25/02/2019, bị đơn dân sự và bị cáo Đinh Thế V đã bồi thƣờng chi phí điều trị thƣơng tích, chi phí mai táng, tổn thất tinh thần cho gia đình nạn nhân Danh Thị Thảo N với số tiền là 40.000.000đ. Bồi thƣờng chi phí điều trị thƣơng tích cho chị Phạm Thị Cẩm N với số tiền là 10.000.000đ. Bồi thƣờng chi phí sửa xe môtô biển số 68G1-643.34 cho anh Nguyễn Hoàng S với số tiền là 2.500.000đ. Ông Danh Hoàng M và bà Trƣơng Thị D là cha, mẹ ruột của nạn nhân Danh Thị Thảo N, anh Phạm Thanh V và chị Nguyễn Thị Tuyết M là cha, mẹ ruột chị Phạm Thị Cẩm N, cùng anh Nguyễn Hoàng S là chủ sở hữu xe mô tô biển số 68G1- 643.34 đồng ý nhận số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm.
Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và bị đơn dân sự không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định kể trên.
Tại Cáo trạng số 25/CT-VKS-DA ngày 28 tháng 12 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Đinh Thế V về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo mức án 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm.
Trách nhiệm dân sự: Bị cáo và các đƣơng sự đã thỏa thuận giải quyết xong nên không đề nghị xem xét.
Tại đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị cáo Đinh Thế V xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Bị cáo Đinh Thế V có yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ vào khoản 2 Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị cáo.
Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bị đơn dân sự vắng mặt, tuy nhiên quá trình tố tụng các đƣơng sự đã thỏa thuận giải quyết xong về trách nhiệm dân sự. Bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo, do đó căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đƣơng sự.
Về chứng cứ xác định có tội: Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 13/02/2019, tại Ngã tƣ giao lộ đƣờng Mỹ Phƣớc Tân Vạn và đƣờng Quốc lộ 1K (QL1K) thuộc địa phận khu phố C, phƣờng B, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dƣơng, khi Đinh Thế V đang điều khiển xe ô tô, biển số 56N-3063 rẽ trái vào đƣờng QL1K, do điều khiển xe ô tô không đảm bảo an toàn đã gây tai nạn với xe mô tô biển số 68G1-643.34 do chị Danh Thị Thảo N điều khiển phía sau chở chị Phạm Thị Cẩm N. Hậu quả làm chị Danh Thị Thảo N bị tử vong và chị Phạm Thị Cẩm N bị thƣơng. Hành vi trên của bị cáo Đinh Thế V đã vi phạm vào khoản 2 điều 15 Luật giao thông đƣờng bộ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 25/CT-VKS-DA ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là lỗi vô ý nhƣng nghiêm trọng đã xâm phạm an toàn công cộng, ảnh hƣởng đến hoạt động bình thƣờng của các phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của ngƣời tham gia giao thông. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời lao động có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự.
Trách nhiệm dân sự: Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại, bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và bị đơn dân sự đã thỏa thuận giải quyết xong và không còn yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, sau khi đƣợc áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nƣớc và địa phƣơng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sự cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo dƣới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú cũng không ảnh hƣởng đến tình hình đấu tranh tội phạm tại địa phƣơng, đồng thời cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Đối với chị Phạm Thị Cẩm N, sau khi khởi tố không đến Cơ quan điều tra để làm việc và giám định tỷ lệ thƣơng tích. Chị N bỏ địa phƣơng đi đâu, làm gì địa phƣơng và gia đình không biết; ông Phạm Thanh V là cha của chị N cũng không biết hiện nay chị N làm gì, ở đâu. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An không tiến hành giám định tỷ lệ thƣơng tích của chị Phạm Thị Cẩm N đƣợc. Đối với anh Nguyễn Hoàng S là ngƣời đứng tên chủ sở hữu xe môtô biển số 68G1-643.34, anh S giao xe cho chị Phạm Thị Cẩm N sử dụng. Sau khi khởi tố vụ án, anh S không đến Cơ quan điều tra để làm việc, hiện anh S bỏ địa phƣơng đi đâu không rõ. Việc anh Nguyễn Hoàng S giao xe cho chị Phạm Thị Cẩm N (chị N không có giấy phép lái xe), sau đó chị N giao xe cho chị Danh Thị Thảo N (N không có giấy phép lái xe) thể hiện tại biên bản ghi lời khai của anh S và chị N ngày 22 và 25/02/2019. Tuy nhiên, không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với anh Nguyễn Hoàng S về tội “Giao cho ngƣời không đủ điều kiện điều khiển phƣơng tiện tham gia giao thông đƣờng bộ” vì lỗi chính trong vụ tai nạn là Đinh Thế V gây ra. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Đội cảnh sát giao thông trật tự ra Quyết định xử lý hành chính về hành vi: Giao xe cho ngƣời không đủ điều kiện điều khiển phƣơng tiện tham gia giao thông đƣờng bộ.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đinh Thế V phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Xử phạt bị cáo Đinh Thế V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Đinh Thế V cho Ủy ban nhân dân Phƣờng 2, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trƣờng hợp ngƣời đang chấp hành thời gian thử thách thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cƣ trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đối với bị cáo Đinh Thế V.
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đinh Thế V phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự và ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo (01); - VKSND thành phố Dĩ An (01); - VKSND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Công an thành phố Dĩ An (01); - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01); - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng (01); - UBND nơi cƣ trú của bị cáo (01); - Ngƣời tham gia tố tụng (06); - Lƣu: VT, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Liễng |