vanban.org

Bản án 39/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội Tuyên án 28/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

Xử phạt : Lê Văn D 24 (hai mƣơi bốn) tháng tù, đƣợc trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20/9/2022 đến ngày 29/09/2022. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------------
Bản án số: 39/2023/HS-ST
Ngày 28/02/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tô Thanh Tú

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Đông

2. Ông Hoàng Văn Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vũ Lan Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2023/HS-ST ngày 16/01/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/QĐXX-ST ngày 02/02/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 19/QĐ-HPT ngày 15/02/2023 đối với bị cáo:

Lê Văn D (tên gọi khác: Không), sinh năm 1994 tại tỉnh Hải Dương; ĐKNKTT: xóm 7, thôn A, xã Q, huyện N, tỉnh Hải Dương; chỗ ở trước khi bị bắt: số 1A, ngách 74/13 ngõ T, phường H, quận Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Văn C (c); Con bà: Trần Thị T; Tiền án, tiền sự: Không; Danh chỉ bản số 451 ngày 29/9/2022; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 20/9/2022; tạm giữ ngày 20/9/2022; hủy bỏ biện pháp tạm giữ ngày 29/9/2022; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 15 phút, ngày 20/9/2022 tổ công tác công an phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tại khu vực số 60 phố Dịch Vọng Hậu, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội phát hiện Lê Văn D có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện D thả từ tay trái xuống nền đường cạnh nơi D đứng 01 túi nilong. Tổ công tác yêu cầu D nhặt túi nilong lên, phát hiện bên trong túi nilong có chứa 05 viên nén hình chữ nhật màu xám, D khai nhận là ma túy “kẹo” D vừa mua của một người không quen biết, mục đích đi tìm nơi sử dụng thì bị bắt. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ, niêm phong tang vật, đưa D về trụ sở công an phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội làm rõ. Ngoài ra, cơ quan công an còn thu giữ của D 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy S10 màu vàng.

Tại cơ quan điều tra, Lê Văn D khai nhận: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 20/9/2022 D vào mạng facebook thì có tài khoản “Lê Thị Hằng” đăng bài với nội dung tìm người có ma túy để sử dụng cùng. Sau đó, D sử dụng tài khoản “Nguyễn Quang” của D nhắn tin quá messenger với tài khoản “Lê Thị Hằng”. Qua nhắn tin trao đổi, D biết đó là một cô gái muốn sử dụng ma túy ”kẹo”. Người này bảo D mang ma túy đến số 60 phố Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội để sử dụng cùng rồi đặt vấn đề quan hệ tình cảm và D đồng ý. Sau đó, D thuê xe ôm đến điểm hẹn. Trên đường đi D sử dụng điện thoại của D vào mạng xã hội facebook với mục đích tìm mua ma túy “kẹo”. D hỏi và liên hệ được với một người bán ma túy trên mạng xã hội và thống nhất mua 05 viên ma túy “kẹo” với giá 2.000.000 đồng. Sau đó, D cho người bán ma túy số điện thoại của mình để tiện liên hệ trao đổi. D bảo người bán ma túy đến số 60 phố Dịch Vọng Hậu để bán ma túy cho D, người này đồng ý. Khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, D đến khu vực phố Dịch Vọng Hậu đứng đợi thì có số điện thoại 0975320896 gọi điện cho D nói ship đồ. D biết là người mang ma túy đến, lúc này đường vắng, D thấy một nam thanh niên đi xe máy Wave (không nhớ biển kiểm soát) đeo khẩu trang đưa cho D 01 gói nhỏ cuộn băng dính màu đen thì thấy bên trong có 01 túi nilong chứa 05 viên ma túy “kẹo” màu xám, D cầm túi ma túy ở tay trái rồi đi bộ đến trước cửa nhà số 60 phố Dịch Vọng Hậu thì bị tổ công tác kiểm tra. Do quá sợ hãi nên D thả túi nilong chứa ma túy “kẹo” đang cầm xuống nền đường cạnh vị trí D đứng và bị bắt giữ như đã nêu trên.

Xét nghiệm ma túy đối với D cho kết quả âm tính.

Theo Bản kết luận giám định số 6697/KLGĐ-PC09 ngày 29/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận: 05 viên nén hình chữ nhật màu xám bên trong 01 túi nilong đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 1,960 gam.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của D tại số 1A ngách 13/74 ngõ T, phường H, quận Đ, thành phố Hà Nội không thu giữ được gì liên quan đến vụ án.

Đối với người bán ma túy cho D do D mua trên mạng xã hội, không biết nhân thân lai lịch, xác minh số điện thoại liên lạc với D chưa đăng ký thông tin nên cơ quan công an không có căn cứ xác định để xử lý.

Đối với tài khoản facebook “Lê Thị Hằng” là người rủ D mua ma túy để sử dụng cùng do D không biết được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ để xác định xử lý.

Chiếc điện thoại di động thu giữ của D được xác định là tài sản của D, dùng để liên lạc cá nhân. Ngày 20/9/2022 D dùng điện thoại này để liên lạc mua ma túy.

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKSCG ngày 06/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố Lê Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Văn D từ 32 tháng 36 đến tháng tù.

Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì chứa ma túy đã niêm phong.

Tịch thu, phát mại, sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Samsung Galaxy thu giữ của Dũng.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn D khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Cầu Giấy, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những lời khai của bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 04 giờ 15 phút, ngày 20/9/2022 tại khu vực số 60 phố Dịch Vọng Hậu, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, Lê Văn D đã có hành vi tàng trữ 1,960 gam ma túy loại MDMA để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma tuý là chất độc dược huỷ hoại sức khoẻ con người và gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, là nguồn gốc gây nên nhiều tội phạm khác. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự công cộng.

Xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian bằng hình phạt tù nghiêm khắc nhằm mục đích giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong cộng đồng. Thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/9/2022 đến ngày 29/09/2022 được trừ vào thời gian chấp hành bản án.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn, hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Gia đình bị cáo có người có công với Cách mạng, ông nội của bị cáo là ông Lê Văn X được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước theo Quyết định số 907 KT/HĐNN ngày 28/8/1986 của Chủ tịch Hội đồng nhà nước, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất vì có thành tích phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam theo Lệnh số 27/LCT ngày 31/01/1981 của Chủ tịch nước. Bản thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có đóng góp trong công tác phòng chống dịch Covid 19 tại địa phương nên cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, nên miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- MDMA là chất ma túy bị cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Chiếc điện thoại di động thu giữ bị cáo là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, phát mại, sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Văn D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy

Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt : Lê Văn D 24 (hai mƣơi bốn) tháng tù, đƣợc trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20/9/2022 đến ngày 29/09/2022. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Hình phạt bổ sung: Miễn phạt tiền đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký của đối tượng Lê Văn D và chữ ký của giám định viên Nguyễn Thanh B trên mép dán phong bì niêm phong, có chứa: 05 viên nén hình chữ nhật màu xám bên trong 01 túi nilong đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng: 1,960 gam.

- Tịch thu, phát mại, sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy S10 màu vàng, bên trong có sim (không xác định được số sim). Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.

Hiện vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy theo Biên bản giao nhận vật chứng số 092 ngày 11/1/2023.

* Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Mục I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án năm 2009; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 3/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ