vanban.org

Bản án 39/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên Tuyên án 26/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Khoàng Văn Th- phạm tội TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỦA CHÙA
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HS-ST
Ngày 26 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Lan Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chang A Dì, Ông Tẩn A Dén

- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2023/TLST - HS ngày 12/9/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐXXST - HS ngày 15/9/2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Khoàng Văn Th - Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1968 tại huyện M, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú hiện nay: Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện C, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Khoàng Văn Ph (đã chết) và bà Khoàng Thị S (đã chết); vợ là Mào Thị Th (đã ly hôn); Bị cáo không có con; Tiền sự: Không; Tiền án: Có 02 tiền án, năm 2001 bị TAND huyện Tủa Chùa xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 17/HSST ngày 10/4/2001; năm 2003 bị TAND huyện Tủa Chùa xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản và xử phạt 03 năm tù về tội Trốn khỏi nơi giam tại Bản án số 50/HSST ngày 04/9/2003; Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 10/HSPT ngày 29/10/2003 của TAND tỉnh Lai Châu xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản và xử phạt 02 năm tù về tội Trốn khỏi nơi giam; Nhân thân là người nghiện ma túy; Tạm giữ từ ngày 03/6/2023 đến ngày 09/6/2023, tạm giam từ ngày 09/6/2023 đến nay. Bị cáo có mặt.

Người tham gia tố tụng khác: Người phiên dịch: Bà Lò Thị T - Sinh năm 1980; Nơi cư trú: Bản B, thị trấn T, huyện C, tỉnh Điện Biên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 18 giờ 10 phút ngày 03/6/2023 bị cáo Th một mình đi bộ vào Tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện C để tìm mua ma túy sử dụng, tại đây bị cáo có gặp một người phụ nữ dân tộc Thái khoảng 60 tuổi không biết tên tuổi, địa chỉ hỏi mua được 02 gói ma tuý với giá 150.000 đồng. Sau khi mua được bị cáo cất giấu 02 gói ma túy vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi bộ về. Đến 18 giờ 25 phút cùng ngày khi bị cáo về đến đoạn đường thuộc Bản S, thị trấn T thì bị tổ công tác Công an huyện C bắt quả tang về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy đồng thời thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 gói được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh bên trong có 01 cục chất bột màu trắng thể rắn.

- 01 gói được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh bên trong có 02 viên nén màu hồng thể rắn, một mặt của mỗi viên nén có chữ WY.

Ngày 03/6/2023, Cơ quan điều tra mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, xác định vật chứng thu giữ của bị cáo: Cục chất bột màu trắng thể rắn có khối lượng 0,1333 gam, lấy 0,0818 gam làm mẫu vật gửi giám định, vật chứng còn lại 0,0515 gam; 02 viên nén màu hồng thể rắn có khối lượng 0,1976 gam, lấy 0,0991 gam làm mẫu vật gửi giám định, vật chứng còn lại 0,0985 gam.

Kết luận giám định số 887/KL - PC09 ngày 11/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu cục chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine – có khối lượng 0,1333 gam; Mẫu các viên nén màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ gửi giám định là chất ma túy: Loại Methamphetamine – có khối lượng 0,1976 gam.

Cáo trạng số 30/CT - VKSHTC ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa truy tố bị cáo Khoàng Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội ''Tàng trữ trái phép chất ma túy''; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo; Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại loại Heroine, Methamphetamine; Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Xét về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến bắt quả tang bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả thu giữ vật chứng; biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và Bản kết luận giám định.

Có đủ cơ sở kết luận ngày 03/6/2023 bị cáo đã mua được 02 chất ma túy của một người phụ nữ dân tộc Thái, bị cáo không biết họ tên, địa chỉ với giá 150.000 đồng tại tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện C mục đích bị cáo mua ma túy để sử dụng. Đến 18 giờ 25 phút cùng ngày thì bị Cơ quan điều tra Công an huyện C bắt quả tang và thu giữ toàn bộ các chất ma túy bị cáo cất giấu trong túi quần bên trái đang mặc.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã cố ý mua 0,1333 gam Heroine và 0,1976 gam Methamphetamine, tổng khối lượng hai chất ma túy là 0,3309 gam. Hành vi cất giấu hai chất ma túy của bị cáo với mục đích sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội ''Tàng trữ trái phép chất ma túy'' theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [2] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Năm 2001 bị TAND huyện Tủa Chùa xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; năm 2003 bị TAND huyện Tủa Chùa xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản và xử phạt 03 năm tù về tội Trốn khỏi nơi giam, Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 10/HSPT ngày 29/10/2003 của TAND tỉnh Lai Châu xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản và xử phạt 02 năm tù về tội Trốn khỏi nơi giam, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, đến ngày phạm tội (ngày 03/6/2023) bị cáo chưa chấp hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm tại các Bản án số 17/2001/HSST ngày 10/4/2001, Bản án số 50/HSST ngày 04/9/2003 của TAND huyện Tủa Chùa, xác định bị cáo có 02 tiền án, do đó bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "tái phạm" theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự và cần xem xét khi quyết định mức hình phạt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ "thành khẩn khai báo" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên về áp dụng tình tiết giảm nhẹ này.

Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội, khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo. Do đó đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính đối với bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận. [3] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của Cơ quan điều tra và tranh tụng tại phiên tòa cho thấy bị cáo là người nghiện ma tuý, người sống lang thang, không có việc làm và thu nhập thường xuyên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận. [4] Về vấn đề khác có liên quan: Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được họ tên, địa chỉ nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét, xử lý. [5] Về vật chứng vụ án: Đối với 0,0515 gam Heroine, 0,0985 gam Methamphetamine còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ; 02 mảnh nilon, 01 vỏ gói niêm phong cũ là vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ. [6] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, thường xuyên sống lang thang không có nơi cư trú ổn định nên cần miễn toàn bộ án phí sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cho bị cáo. [7] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. 1. Tuyên bố: Bị cáo Khoàng Văn Th phạm tội: " Tàng trữ trái phép chất ma túy " 2. Hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Khoàng Văn Th 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 03/6/2023. 3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,0515 gam Heroine và 0,0985 gam Methamphetamine; 02 mảnh nilon màu xanh; 01 vỏ gói niêm phong cũ.

Số vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện C đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện C. 4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. 5. Kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/9/2023).

Cỡ chữ