vanban.org

Bản án 39/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình Tuyên án 15/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Kiểm phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn K, xử phạt: Nguyễn Văn K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 21/3/2023. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Đi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Kiểm phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỀN HẢI
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HS-ST
Ngày: 15 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Vũ Văn Lợi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Mã Siêu;

Bà Trần Thị Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phƣơng Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Sớm – Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2023/TLST - HS, ngày 31 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2023/QĐXXST - HS, ngày 02 tháng 6 năm 2023 đối với, bị cáo: Nguyễn Văn K - sinh ngày 01/5/1975, tại: huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn P.T.Đ, xã P.C, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giớ i tinh : Nam; Tôn giáo:

́ Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Con ông Nguyễn Đức T (được tặng thưởng huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng 3) – đã chết và bà Đặng Thị R; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là thứ 2; Có vợ là Vũ Thị T (đã ly hôn) và 02 con, lớ n sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bản án số 25/2017/HSST ngày 18/5/2017 của TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/3/2023 đến ngày 24/3/2023 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyê ̣n Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

(Trích xuất có mặt tại phiên tòa)

Ngƣời chứng kiến:

- Chị Nguyễn Thị T - sinh năm 1974

(Vắng mặt)

- Ông Phạm Tiến C - sinh năm 1954

(Vắng mặt)

Đều có địa chỉ: tổ dân phố T.H, thị trấn T.H, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử du ̣ng ma túy , khoảng 11 giờ 20 phút ngày 21/3/2023 bị cáo Nguyễn Văn K đi từ nhà ra đường, sau đó xin đi nhờ xe của một người không quen biết đến khu vực chân cầu T.L thuộc xã T.L, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, K tìm và gặp một người đàn ông mà K. không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu, do nghi ngờ người này có ma túy bán nên K. hỏi mua. Người này đồng ý bán, K. đưa cho người này 200.000đ. Nhận tiền, người này đưa lại cho K. 01 gói giấy mềm màu trắng, mở ra bên trong chứa hai gói đều gói bằng giấy tráng kim màu trắng. Biết đây là ma tuý nên K. nhận và cất vào túi áo khoác ngoài bên trái đang mặc rồi đi về. Khi K. đi đến đoạn đường trước cửa quán cắt tóc Anh TÔ PIN thuộc số 60, tổ dân phố T.H, thị trấn T.H, huyện Tiền Hải thì gặp tổ công tác Công an huyện Tiền Hải yêu cầu làm việc. Cơ quan Công an đã mời Kiểm cùng người chứng kiến về UBND thị trấn T.H để làm việc. Tại đây, K. tự giác lấy từ túi áo khoác ngoài bên trái K. đang mặc ra 01 gói được gói bằng mảnh giấy mềm màu trắng mở ra bên trong chứa 02 gói được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, mở ra bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng giao nộp cho cơ quan Công an và khai nhận đó là ma túy K. mua về để sử dụng cho bản thân. Công an huyê ̣n Tiền Hải đa lâ ̣̃ p biên bản bắ t ngườ i pha ̣m tô ̣i quả tang, biên bản quản lý , niêm phong số ma túy nêu trên. Khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo nhưng không phát hiê ̣n thu giữ gì.

Bản kết luận giám định số 395/KL - KTHS ngày 23/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Chất bô ̣t dạng cục màu trắng gử i giám định là ma túy loại heroine, khối lượng 0,1005 gam.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn K. thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 50/CT - VKSTH ngày 31/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Văn K. về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K. từ 01 năm 00 tháng đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 21/3/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo lao động tự do , thu nhập không ổn định, bản thân nghiê ̣n ma tú y.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo.

Bị cáo, không có tranh luận gì với đại diện viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc ban hành các quyết định tố tụng đúng quy định của pháp luật. Bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng. Bị cáo khai: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 21/3/2023, tại đoạn đường trước cửa quán cắt tóc Anh TÔ PIN thuộc số 60, tổ dân phố T.H, thị trấn T.H, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Công an huyện T.H phát hiện, bắt quả tang bị cáo Nguyễn Văn K. có hành vi tàng trữ 02 gói ma túy loại Heroine, khối lượng 0,1005gam với mục đích để sử dụng cho bản thân.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, quá trình truy tố và h ành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyê ̣n Tiền Hải, tỉnh Thái Bình lập ngày 21/3/2023; Biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyê ̣n Tiền Hải lâ ̣p ngày 21/3/2023; Bản kết luận giám định số: 395/KL-KTHS ngày 23/3/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình; Biên bản khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn K. tại thôn P.T.Đ, xã P.C, huyện Tiền Hải; Lời khai của những người chứng kiến chị Nguyễn Thị T, ông Phạm Tiến C.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý; viê ̣c sử du ̣n g ma túy gây ảnh hưởng tới sức khoẻ của người sử dụng, làm cho ngườ i sử du ̣ng bi ̣ lê ̣ thuô ̣c vào chất ma túy , dẫn đến suy kiệt kinh tế gia đình. Việc mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý là nguyên nhân làm phát sinh các tai tệ nạn xã hội như trộm cắp, cướp giật, …, đặc biệt là nguy cơ lây nhiễm các bệnh xã hội thế kỷ như HIV/AIDS. Hiện nay, tệ nạn hút trích ma tuý đang là gánh nặng cho nhiều gia đình và xã hội. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi hình sự. Mặc dù nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích thoả mãn cơn nghiện, bị cáo đã cố ý phạm tội, bất chấp pháp luật và hậu quả gây ra cho xã hội.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi pha ̣m tô ̣i, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiê ̣m hinh sự bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều

̀ 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân đã từng bị xét xử về tội phạm ma tuý.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mứ c đô ̣ hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo nhâ ̣n thứ c được tá c ha ̣i của ma túy nhưng vẫn sử dụng ma túy, tuy đã bị kết án về tội phạm ma tuý nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa đổi bản thân mà tiếp tục sử dụng ma tuý. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội cũng như góp phần chung vào công tác răn đe, phòng ngừa tội phạm ma túy.

Bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, bản thân lại nghiện ma túy do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trong vụ án này còn có: 01 người nam giớ i đã bán ma tuý cho bị cáo tại chân cầu T.L, do bị cáo không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ điều tra, xác minh làm rõ người bán ma túy cho bị cáo để xử lý theo pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Đối với 0,0868g Heroine hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vâ ̣t giám đi ̣nh số 395/KL - KTHS. Đây là chất gây nghiện nhà nước cấm lưu hành cùng bao gói liên quan đến tội phạm không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Kiểm phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn K, xử phạt: Nguyễn Văn K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 21/3/2023.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,0868g Heroine hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong phong bì hoàn trả mẫu vâ ̣t giám đi ̣nh số 395/KL - KTHS.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2023)

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ