vanban.org

Bản án 39/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu Tuyên án 20/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Giàng Díu H 18(Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "D-H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TAND HUYỆN TAM ĐƯỜNG
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:39/2023/HS-ST
Ngày 20/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Tuyết

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thủy

Ông Hoàng Xuân Nhật

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đường

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Huế - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐXXST-HS ngày 08/6/2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Giàng Díu H Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 20/8/1993;

Tại: TĐ, Lai Châu;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản TH, xã SB, huyện TĐ, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Lô lô; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Giàng Díu B (đã chết); con bà: Lìu Thị K (đã chết). Gia đình bị cáo có 04 chị em ruột. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 13/02/2023 đến ngày 19/02/2023 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện TĐ, tỉnh Lai Châu cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Phu Vần D Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 15/10/1993;

Tại: TĐ, Lai Châu;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản TH, xã SB, huyện TĐ, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Lô lô; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Phu Seo S (đã chết); con bà: Xuân Tịnh C, sinh năm 1953. Gia đình bị cáo có 03 anh, chị, em. Bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 13/02/2023 đến ngày 19/02/2023 bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện TĐ, tỉnh Lai Châu cho đến nay, có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Giàng Díu H sinh ngày 20/8/1993, Phu Vần D sinh ngày 15/10/1993 đều trú tại bản TH, xã SB, huyện TĐ, tỉnh Lai Châu là những người nghiện chất ma túy. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 13/02/2023, tại nhà Diu ở bản TH, xã SB, huyện TĐ, Hòa rủ Diu cùng đi mua ma túy về sử dụng, Diu đồng ý. Hòa và Diu thỏa thuận: Hòa là người góp tiền, Diu là người cung cấp phương tiện đi lại. Sau đó, Diu điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 19K4-4683 (thuộc sở hữu của Diu) chở Hòa đi đến bản Nà Luồng, xã Nà Tăm, huyện TĐ. Tại bản Nà Luồng, Hòa nhờ một người đàn ông không rõ lai lịch mua hộ 01 gói Heroine (gói bằng mảnh nilon màu xanh) giá 380.000 đồng. Mua được ma túy, Hòa đưa gói Heroine cho Diu xem rồi cất giấu trong lòng bàn tay trái. Diu điều khiển xe mô tô chở Hòa đi về tìm chỗ sử dụng ma túy. Hồi 12 giờ 00 phút ngày 13/02/2023, khi Giàng Díu H, Phu Vần D đi đến bản TH, xã SB, huyện TĐ thì bị Công an xã SB phát hiện, bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Quá trình bắt, Hòa thả gói Heroine xuống lề đường để tiêu hủy chứng cứ, Công an xã SB đã thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TĐ tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định.

Tại bản Kết luận giám định số 18/KLGĐ ngày 13/02/2023 của người giám định theo vụ việc kết luận: số chất bột, màu trắng thu giữ của Giàng Díu H, Phu Vần D có khối lượng là: 0,19 gam.

Tại bản Kết luận giám định số 178/KL-KTHS ngày 15/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine.

Bản cáo trạng số 33/CT-VKSTĐ, ngày 26/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TĐ truy tố bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận điều tra và bản cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát huyện TĐ giữ nguyên quan điểm truy tố của mình đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Giàng Díu H từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/02/2023; xử phạt bị cáo Phu Vần D từ 16 tháng đến 22 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/02/2023. Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Mẫu vật còn lại khối lượng 0,1 gam cùng phong bì và mảnh nilon màu xanh gói vật chứng ban đầu thu giữ của Giàng Díu H sinh năm 1993; Phu Vần D sinh năm 1993 cùng trú tại Bản TH, xã SB, huyện TĐ, tỉnh Lai Châu ngày 13/02/2023”. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave màu sơn đỏ, biển kiểm soát 19K4-4683. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TĐ.

Tại lời nói sau cùng bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ căn cứ khẳng định: Hồi 12 giờ 00 phút ngày 13/02/2023 tại bản TH, xã SB, huyện TĐ, tỉnh Lai Châu, Giàng Díu H và Phu Vần D đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,19 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã SB, huyện TĐ bắt quả tang.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Giàng Díu H là người khởi xướng, cung cấp tiền và trực tiếp đi mua, cất giấu ma túy; Phu Vần D là người giúp sức tích cực, cung cấp phương tiện và chở Hòa đi mua ma túy. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D có đủ khả năng nhận biết ma túy là độc dược gây nghiện, làm tổn hại cho sức khỏe, nhân phẩm của con người và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy, đủ cơ sở để khẳng định hành vi của bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; gia đình bị cáo Phu Vần D thuộc hộ nghèo; bị cáo Giàng Díu H không biết chữ và gia đình thuộc hộ cận nghèo. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D không có tình tiêt tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục các bị cáo, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo làm ruộng, thu nhập không ổn định gia đình bị cáo Phu Vần D thuộc hộ nghèo, gia đình bị cáo Giàng Díu H thuộc hộ cận nghèo. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Đối với 0,09 gam (Không phẩy không chín gam) heroine thu giữ của bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D đã gửi đi giám định không hoàn lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Mẫu vật còn lại khối lượng 0,1 gam cùng phong bì và mảnh nilon màu xanh gói vật chứng ban đầu thu giữ của Giàng Díu H sinh năm 1993; Phu Vần D sinh năm 1993 cùng trú tại Bản TH, xã SB, huyện TĐ, tỉnh Lai Châu ngày 13/02/2023” là vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, công cụ các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave màu sơn đỏ, biển kiểm soát 19K4-4683 thu giữ của bị cáo Phu Vần D là phương tiện bị cáo Phu Vần D sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

Những vấn đề liên quan:

Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D khai nhờ một người đàn ông không rõ lai lịch mua hộ. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ.

Về án phí: Tại phiên tòa, bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo. Xét thấy, bị cáo bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; gia đình bị cáo Phu Vần D thuộc hộ nghèo, gia đình bị cáo Giàng Díu H thuộc hộ cận nghèo theo quy định Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D thuộc trường hợp miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Giàng Díu H 18(Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/02/2023.

Xử phạt bị cáo Phu Vần D 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/02/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về vật chứng của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Mẫu vật còn lại khối lượng 0,1 gam cùng phong bì và mảnh nilon màu xanh gói vật chứng ban đầu thu giữ của Giàng Díu H sinh năm 1993; Phu Vần D sinh năm 1993 cùng trú tại Bản TH, xã SB, huyện TĐ, tỉnh Lai Châu ngày 13/02/2023”.

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave màu sơn đỏ, biển kiểm soát 19K4-4683.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 26/5/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TĐ với Chi Cục thi hành án dân sự huyện TĐ).

4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng Díu H và bị cáo Phu Vần D.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn mười lăm ngày lên Toà án cấp trên kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ