vanban.org

Bản án 39/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 26/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 08 ( tám ) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2023. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ sung ngân sách nhà nước. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn B - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HS - ST
Ngày: 16/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thế Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Dự và ông Trần Văn Nghi

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ninh, thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hoàn, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2023/TLST-HS ngày 20/07/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐXXST-HS ngày 02/08/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn B; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1989; Nơi ĐKHKTT: Xóm 7A Tây, xã C, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú hiện nay: Xóm 7, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12.

Bố đẻ: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1958 (Đã chết); Mẹ đẻ: Phạm Thị T, sinh năm 1958, hiện làm ruộng và trú tại: Xóm 7A Tây, xã C, huyện K; Gia đình có 8 chị em; bị cáo là con thứ ba; Vợ: Phạm Thị D, sinh năm 1990, hiện lao động tự do và trú tại xóm 7, xã L, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án: Không. Tiền sự: 02.

+ Ngày 26/02/2020 Công an xã C, huyện K, tỉnh Ninh Bình đã Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/XPHC về hành vi “sử dụng trái phép chất ma tuý”.

+ Ngày 23/4/2020 bị Toà án nhân dân huyện K ra Quyết định số 05/QĐTA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng. Ngày 29/10/2021 B thi hành xong nhưng chưa được xoá vi phạm.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/02/2023 đến ngày 24/02/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Hoàng Ngọc L, sinh năm 1997; cư trú tại: phố N, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

+ Anh Điền Đức Đ, sinh năm 1987; cư trú tại Thôn Đ, xã N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

+ Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1989; cư trú tại: xóm 6, xã K, huyện K (vắng mặt).

+ Chị Phạm Thị D, sinh năm 1990, trú tại xóm 7, xã L, huyện K ( có mặt)

- Người chứng kiến: Ông Vũ Hồng Q1 và ông Nguyễn Văn T ( đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biễn tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 30 phút ngày 15/02/2023, Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Ninh Bình đang làm nhiệm vụ tại khu vực tại khu vực cổng trường tiểu học thị trấn P, thuộc phố N, thị trấn P, huyện K kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn B đang cầm trên tay trái 01 gói ma tuý được gói ngoài bằng giấy màu trắng để bán cho Điền Đức Đ.

Thu giữ của Nguyễn Văn B trên tay trái 01 gói nhỏ, gói ngoài bằng giấy màu trắng, kích thước (1,5x2,5)cm, bên trong có chứa chất cục dạng bột màu trắng; thu giữ trong túi áo khoác đang mặc 01 túi nilong màu trắng, phía trên mép túi có đường chỉ màu đỏ kích thước (7x12,5)cm, bên trong có 02 gói nhỏ gói ngoài bằng giấy màu trắng. Ngoài ra còn thu giữ của B số tiền 2.000.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL màu xanh lắp sim số 0823511009 và 01 xe mô tô nhãn hiệu MAXWAY, BKS: 35H9 - 2281.

Thu giữ của Điền Đức Đ 01 điện thoại ITEL màu đen lắp sim số 0565949632. Tiến hành kiểm tra bên trong chiếc điện thoại nhãn hiệu ITEL có 02 tệp tin ghi âm nội dung cuộc gọi liên lạc mua ma túy của B và Đ vào các ngày 14/02/2023 và 15/02/2023; kiểm tra bên trong chiếc điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG màu trắng mà Điền Đức Đ mượn của anh Hoàng Ngọc L, sinh năm 1997, trú tại phố N, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình có 02 tệp tin video ghi hình nội dung mua bán ma túy giữa B và Đồng vào các ngày 07/02/2023 và 14/02/2023. Các tệp tin trên được sao trích vào 02 đĩa DVD-R niêm phong theo quy định của pháp luật.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã thu giữ: 01 túi nilong màu trắng, mép túi có đường chỉ màu đỏ, kích thước (7,5x4)cm, bên trong có chất bột dạng cục màu trắng; 01 lưỡi dao lam và 05 mảnh giấy vở học sinh đều có kích thước (4x4)cm.

Tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng có trong 01 gói nhỏ gói ngoài là giấy màu trắng có khối lượng là 0,6020 gam, ký hiệu MI; chất bột dạng cục màu trắng có trong 02 gói nhỏ gói ngoài bằng giấy màu trắng có tổng khối lượng là 0,1702 gam ký hiệu M2; chất bột dạng cục màu trắng có trong túi nilong màu trắng có khối lượng là 1,0096 gam ký hiệu M3. Đồng thời tiến hành gửi các mẫu M1, M2, M3 và 02 tệp tin video lưu trữ trong đĩa DVD-R đi trung cầu giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 194/KL/KTHS-MT ngày 23/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,6020 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,1702 gam, ký hiệu M3 có khối lượng 1,0096 gam. Tổng khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong ba mẫu kí hiệu M1, M2, M3 là 1,7818 gam. Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M1, M2, M3 đều là ma tuý loại Heroine".

Tại kết luận giám định số 361/KLG-KTHS-KTS&ĐT ngày 08/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chính sửa nội dung hình ảnh trong 02 tập tin video lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định”.

Quá trình điều tra đã xác định được như sau: Để có tiền sử dụng ma túy và tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Văn B nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Trong các ngày 07/02/2023, 14/02/2023 và 15/2/2023, B đã bán ma tuý cho Điền Đức Đ, sinh năm 1987, trú tại thôn Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Buổi sáng ngày 07/2/2023 B điều khiển xe mô tô BKS: 35H9

- 2281 đi từ nhà đến bến đò Mười thuộc xã Khánh Thành, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình sang tỉnh Nam Định. Tại đây B gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 2.000.000 đồng rồi mang về nhà chia thành nhiều gói nhỏ với mục đích sử dụng và bán lại kiếm lời. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Đồng sử dụng số điện thoại 0565949632 gọi đến số điện thoại 0823511009 cho B hỏi mua 200.000 đồng ma túy, loại Heroine thì B đồng ý và hẹn gặp tại khu vực cổng trưởng tiểu học thị trấn P, thuộc phố N, thị trấn P, huyện K. Hồi 12 giờ 10 phút cùng ngày, khi gặp nhau tại điểm hẹn Đ đưa cho B số tiền 200.000 đồng và nhận lại 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy màu trắng. Sau đó Đ mang gói ma tuý đi sử dụng hết. Số tiền 200.000 đồng B tiêu xài vào mục đích cá nhân. Số ma tuý còn lại B đã sử dụng và bán hết cho một số người khác nhưng không nhớ cụ thể.

- Lần thứ hai: Buổi trưa ngày 12/02/2023, B tiếp tục điều khiển xe mô tô BKS: 35H9 - 2281 đi từ nhà sang tỉnh Nam Định. Tại đây B gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy, loại Heroine với giá 3.700.000 đồng. Sau đó B mang túi ma tuý về nhà chia thành nhiều gói nhỏ, rồi cất giấu một phần trên người, phần còn lại cất giấu tại nhà với mục đích sử dụng và ai hỏi mua thì bản lại kiếm lời. Cũng bằng hình thức gọi điện thoại như trên, vào lúc 11 giờ 40 phút ngày 14/02/2023 tại khu vực cổng trường tiểu học P, Điền Đức Đ đã mua của Nguyễn Văn B 01 gói Heroine được gói ngoài bằng giấy màu trắng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Đ đã mang đi sử dụng hết. Đối với số tiền 200.000 đồng bán ma túy, B đã tiêu xài hết.

- Lần thứ ba: Khoảng 12 giờ ngày 15/02/2023 Nguyễn Văn B tiếp tục nhận được điện thoại của Điền Đức Đ hỏi mua ma tuý với số tiền 1.200.000 đồng. B đồng ý và hẹn gặp Đ tại khu vực cổng trường tiểu học P. Hồi 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi B đang cầm trên tay trái 01 gói ma tuý được gói ngoài bằng giấy màu trắng để bán cho Đ thì bị Công an tỉnh Ninh Bình kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Quá trình điều tra cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình đã trả lại cho anh Hoàng Ngọc L 01 điện thoại ITEL màu đen lắp sim số 0565949632 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG. Trả lại xe mô tô nhãn hiệu MAXWAY, BKS: 35H9

- 2281 cho chị Phạm Thị D (là vợ bị cáo B).

Chuyển từ kho vật chứng Công an huyện K đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện K các vật chứng gồm: 01 phong bì niêm phong, trên mặt phong bì ghi “vật chứng còn lại” ký hiệu B; 01 phong bì niêm phong trên phong bì ghi “01 điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn B và vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu C”; 01 phong bì niêm phong có ghi chữ “01 lưỡi dao lam, 05 mảnh giấy học sinh đều có kích thước (4x4)cm” ký hiệu K2; 01 phong bì niêm phong bên trên có ghi “số 194/KL-KTHS-MT, mẫu vật hoàn trả sau giám định” bên trong có các gói Heroine còn lại sau giám định gồm M1 = 0,5571 gam; M2 = 0,1308 gam; M3 = 0,9614 gam và toàn bộ vỏ gói niêm phong gửi giám định. Đồng thời chuyển từ tài khoản của Công an huyện K đến tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện K số tiền 2.000.000 đồng để giải quyết cùng vụ án.

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 đĩa DVD-R sao trích 02 tập tin ghi âm cuộc gọi lưu trữ trong máy điện thoại của Điền Đức Đồng vào các ngày 14/02/2023 và 15/02/2023; 01 phong bì niêm phong ghi số 361/KLG-KTHS-KTS&ĐT ngày 08/5/2023 bên trong có 01 đĩa DVD-R lưu trữ 02 video thể hiện việc mua bán ma túy vào các ngày 07/02/2023 và 14/02/2023 được chuyển theo hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 18/7/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm b, Khoản 2, khoản 5 Điều 251 - Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố trong cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 và 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 8 năm đến 8 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính ngày 15/2/2023. Phạt bổ sung đối với bị cáo từ 10 đến 15 triệu đồng sung ngân sách nhà nước.

- Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 và Điều 136 BLHS năm 2015 và Nghị quyết 326/UBTVQH14:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, trên mặt phong bì ghi “vật chứng còn lại” ký hiệu B; 01 phong bì niêm phong trên phong bì ghi “01 điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn B và vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu C”; 01 phong bì niêm phong có ghi chữ “01 lưỡi dao lam, 05 mảnh giấy học sinh đều có kích thước (4x4)cm” ký hiệu K2; 01 phong bì niêm phong bên trên có ghi “số 194/KL-KTHS-MT, mẫu vật hoàn trả sau giám định” bên trong có các gói Heroine còn lại sau giám định gồm M1 = 0,5571 gam; M2 = 0,1308 gam; M3 = 0,9614 gam và toàn bộ vỏ gói niêm phong gửi giám định.

Tiếp tục quản lý theo hồ sơ 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 đĩa DVD-R sao trích 02 tập tin ghi âm cuộc gọi lưu trữ trong máy điện thoại của Điền Đức Đồng vào các ngày 14/02/2023 và 15/02/2023; 01 phong bì niêm phong ghi số 361/KLG-KTHS-KTS&ĐT ngày 08/5/2023 bên trong có 01 đĩa DVD-R lưu trữ 02 video thể hiện việc mua bán ma túy vào các ngày 07/02/2023 và 14/02/2023.

+ Trả lại số tiền 2.000.000 đồng đã thu giữ của bị cáo nhưng tiếp tục quản lý đảm bảo thi hành án.

+ Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền 400.000đ từ việc bán ma túy của bị cáo

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại MASSTEL màu xanh thu giữ của bị cáo

+ Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn B đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không có ý kiến báo chữa không có ý kiến tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở cở sở nội dungvụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về Tội danh của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn B khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy và biết việc bán ma túy thu nhiều lợi nhuận và do hoàn cảnh khó khăn về kinh tế nên đã tìm cách mua ma túy về bán kiếm lời. Bị cáo đã tìm mua và bán lại cho cùng đối tượng Điền Đức Đồng hai lần trót lọt đến lần thứ ba thì bị phát hiện bắt quả tang.

Lời khai của bị cáo tại còn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; được chứng minh tại biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 45 phút ngày 15/02/2023, lời khai của người chứng kiến, người liên quan, vật chứng thu giữ được 03 gói Heroine có tổng trọng lượng 1,7818 gam được kết luận giám định số 194/KL/KTHS-MT ngày 23/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình xác định 1,7818 gam là ma tuý loại Heroine.

Như vậy đã đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 10 phút ngày 07/02/2023 và hồi 11 giờ 40 phút ngày 14/02/2023 tại khu vực trước cổng trường tiểu học thị trấn P thuộc phố N, thị trấn P, huyện K, Nguyễn Văn B có hành vi bản 02 gói ma túy, loại Heroine với giá mỗi gói là 200.000 đồng cho Điền Đức Đ. Hồi 12 giờ 30 phút ngày 15/02/2023 cũng tại địa điểm trên, Nguyễn Văn B đang mang theo người 01 gói ma tuý, loại Heroine có khối lượng 0,6020 gam để bán cho Điền Đức Đ với gia 1.200.000 đồng thì bị bắt quả tang. Ngoài ra, Nguyễn Văn B còn có hành vi cất giấu trái phép trên người và tại nơi ở của mình tổng số 1,1798 gam ma túy, loại Heroine để sử dụng cho bản thân và bán cho người khác nhằm thu lời bất chính.

Hành vi đó của bị cáo Nguyễn Văn B đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “ phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:….

b) Phạm tội 02 lần trở lên;….”

Căn cứ hành vi của bị cáo Nguyễn Văn B, Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “phạm tội từ 02 lần trở lên” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về hình phạt đối với bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và còn là nguyên nhân nảy sinh các tội phạm về các tệ nạn xã hội khác; hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Căn cứ vào tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện cần áp dụng hình phạt tù có thời hạnbuộc bị cáo phải cách ly đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích.

Bị cáo có tài sản chung cùng vợ là quyền sử dụng đất nên cần áp dụng hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 251 BLHS đối với bị cáo.

Trong vụ án này đối tượng Điền Đức Đ là người mua hê rô in của bị cáo B nhưng sau đó tự ý chấm dứt việc thực hiện hành vi vi phạm của mình không thực hiện hành vi mua hê rô in nữa nên không có căn cứ để xử lý.

Về nguồn gốc Heroin: Tại phiên tòa bị cáo khai mua của người đàn ông không quen biết, không biết tên tuổi, địa chỉ và nếu gặp lại cũng không nhận được người này nên Cơ quan CSĐT Công an huyện K không có cơ sở để điều tra, xử lý.

Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc điện thoại ITEL màu đen lắp sim số 0565949632 và điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG; quá trình điều tra xác định được 02 điện thoại này là của anh Hoàng Ngọc L; anh L không biết việc Đ mượn điện thoại để liên lạc và quay lại hình ảnh mua bán ma túy giữa Đ và B. Do đó cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình đã trả lại cho anh L 02 chiếc điện thoại trên là phù hợp, hội đồng xét xử không xem xét lại.

Đối với 01 điện thoại MASSTEL màu xanh lắp sim số 0823511009 thu giữ của B là điện thoại bị cáo sử dụng để liên lạc bán ma túy cho Đ nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu MAXWAY, BKS: 35H9 - 2281 là tài sản hợp pháp của chị Phạm Thị D (là vợ bị cáo B), quá trình điều tra xác định chị D không biết việc B sử dụng xe mô tô để đi mua bán ma tuý. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại chiếc xe trên là có căn cứ và phù hợp với pháp luật, hội đồng xét xử không xem xét lại.

Đối với số tiền 2.000.000đ thu giữ của bị cáo là tiền của cá nhân bị cáo không liên quan đến việc mua bán ma túy cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục quản lý đảm bảo thi hành án.

Đối với số tiền 400.000đ bị cáo thu được từ việc bán ma túy, bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết nên truy thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 phong bì niêm phong, trên mặt phong bì ghi “vật chứng còn lại” ký hiệu B; 01 phong bì niêm phong trên phong bì ghi “01 điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn B và vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu C”; 01 phong bì niêm phong có ghi chữ “01 lưỡi dao lam, 05 mảnh giấy học sinh đều có kích thước (4x4)cm” ký hiệu K2; 01 phong bì niêm phong bên trên có ghi “số 194/KL-KTHS-MT, mẫu vật hoàn trả sau giám định” bên trong có các gói Heroine còn lại sau giám định gồm M1 = 0,5571 gam; M2 = 0,1308 gam; M3 = 0,9614 gam và toàn bộ vỏ gói niêm phong gửi giám định là vật chứng không còn giá trị và là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 đĩa DVD-R sao trích 02 tập tin ghi âm cuộc gọi lưu trữ trong máy điện thoại của Điền Đức Đồng vào các ngày 14/02/2023 và 15/02/2023; 01 phong bì niêm phong ghi số 361/KLG-KTHS-KTS&ĐT ngày 08/5/2023 bên trong có 01 đĩa DVD-R lưu trữ 02 video thể hiện việc mua bán ma túy vào các ngày 07/02/2023 và 14/02/2023 nay tiếp tục quản lý theo hồ sơ vụ án.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện K; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng do đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 và 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 ;Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 08 ( tám ) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2023. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ sung ngân sách nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng:

+ Trả lại cho bị cáo số tiền 2.000.000đ đã thu giữ nhưng tiếp tục quản lý đảm bảo thi hành án.

+ Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền 400.000đ của bị cáo do bán ma túy mà có.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, trên mặt phong bì ghi “vật chứng còn lại” ký hiệu B; 01 phong bì niêm phong trên phong bì ghi “01 điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn B và vỏ phong bì niêm phong ban đầu ký hiệu C”; 01 phong bì niêm phong có ghi chữ “01 lưỡi dao lam, 05 mảnh giấy học sinh đều có kích thước (4x4)cm” ký hiệu K2; 01 phong bì niêm phong bên trên có ghi “số 194/KL-KTHS-MT, mẫu vật hoàn trả sau giám định” bên trong có các gói Heroine còn lại sau giám định gồm M1 = 0,5571 gam; M2 = 0,1308 gam; M3 = 0,9614 gam và toàn bộ vỏ gói niêm phong gửi giám định và các vỏ phong bì, bao gói niêm phong ban đầu.

+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL màu xanh đã thu giữ của bị cáo.

Chi tiết vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an huyện K và Chi cục thi hành án dân sự huyện K ngày 11/8/2023

4. Án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm .

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sư có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ