vanban.org

Bản án 39/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 29/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a, b khoản2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Vinh Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Lê Vinh Q 02 (Hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ( ngày 19/4/2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a, b khoản2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HS-ST
Ngày 29/6/2023.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Cao Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Doãn.

Ông Lê Nam Văn

+ Tại điểm cầu trung tâm: Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê - Thư ký viên, Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

+ Tại điểm cầu thành phần: Thư ký phiên tòa: Bà Trương Mỹ Dung - Thư ký viên, Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

+ Tại điểm cầu trung tâm: Ông Phạm Văn Dũng và bà Lê Lệ Thủy - Kiểm sát viên.

+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Bùi Thanh Hưng - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa (Điểm cầu trung tâm); Nhà tạm giữ Công an huyện Hậu Lộc (Điểm cầu thành phần) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2023 đối với:

Bị cáo Lê Vinh Q; sinh ngày 12/4/1970 tại Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Giáo viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh T và bà Lê Thị N; vợ: Phí Thị H và có 02 con; tiền sự, tiền án: Không; bị cáo là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 57-QĐ/UBKTHU ngày 26/4/2023 của Huyện ủy Hậu Lộc; bị bắt tạm giữ từ ngày 19/4/2023, đến ngày 25/4/2023 chuyển tạm giam đến nay. Có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lại Văn B, sinh năm 1989. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

* Người chứng kiến:

1. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1991. Vắng mặt

2. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1964. Vắng mặt

Đều có địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

* Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần:

Ông Trần Văn Đức và ông Đỗ Tất Sáng - Cán bộ hỗ trợ tư pháp và thi hành án hình sự, Công an huyện Hậu Lộc. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16h45’ ngày 19/4/2023, Đội CSĐTTP về Kinh tế - Ma túy Công an huyện Hậu Lộc phối hợp với Công an xã Đồng Lộc làm nhiệm vụ tại thôn Đ, xã Đ, huyện Hậu Lộc phát hiện bắt quả tang Lê Vinh Q vừa bán cho Lại Văn B 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 100.000 đồng; tại chỗ Công an thu giữ của Lại Văn Bình 01 gói nilon màu đen, bên trong là lớp giấy màu trắng, chứa chất bột màu trắng dạng cục vụn, được niêm phong trong phong bì thư (Kí hiệu M3); Bình khai nhận đó là ma túy vừa mua của Lê Vinh Q; thu giữ trong túi quần phía sau bên trái của Lê Vinh Q 01 gói nilon màu trắng, viền đỏ, kích thước khoảng (04x06)cm, bên trong chứa chất bột màu trắng, dạng cục vụn, được niêm phong trong phong bì thư (Kí hiệu M1), Quang khai đó là Heroine, Q mang theo người nhằm mục đích để sử dụng và bán; thu giữ trong tay phải của Q số tiền 100.000 đồng (Gồm 04 tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng và 02 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng) được niêm phong (Kí hiệu M2), Quang khai nhận đó là số tiền vừa bán ma túy cho Lại Văn B; ngoài ra Công an còn thu giữ của Lê Vinh Q 01 điện thoại Redme Note 11 màu đen, gắn sim số 0763014858; thu giữ của Lại Văn Bình 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh, gắn sim số 0983515113.

Tại Kết luận giám định số 1562/KL-KTHS ngày 24/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,285g (không phẩy hai tám năm gam), loại Heroine; chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M3 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,033g (không phẩy không ba ba gam), loại Heroine.

Quá trình điều tra, Lê Vinh Q khai nhận: Khoảng 16h ngày 19/4/2023, Q đến khu vực cầu Đò Lèn, huyện Hà Trung mua 01 túi ma túy của một người đàn ông khoảng 50 tuổi, cao khoảng 1m70, đeo khẩu trang, không rõ lai lịch với giá 500.000 đồng. Sau đó đi bộ từ cầu Đò Lèn về nhà thì Lại Văn B gọi điện thoại đến số 0763014858 của Q hỏi mua ma túy. Q đồng ý bán cho Bình 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng và giao hẹn địa điểm giao dịch là tại khu vực gầm cầu Đò Lèn thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện H. Quang đi xuống khu vực gầm cầu Đò Lèn chia số ma túy mà anh B hỏi mua và gói lại. Số còn lại Q để trong túi với mục đích vừa sử dụng và có ai hỏi mua thì bán; khoảng 05 phút sau, Bình đi bộ ra điểm hẹn. Q đưa 01 gói ma túy cho B, Bình đưa cho Q 100.000 đồng; khi Quang vừa nhận tiền thì bị lực lượng công an phát hiện, bắt giữ quả tang.

Vật chứng: Số tiền 100.000 đồng hiện đã nộp vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc tại Kho bạc Nhà nước huyện Hậu Lộc. Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành; 01 điện thoại Redme Note 11 màu đen, đã qua sử dụng, gắn sim số 0763014858 thu giữ của Lê Vinh Quang; 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh, đã qua sử dụng, gắn sim số 0983515113 thu giữ của Lại Văn Bình hiện được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc theo quy định, chờ xử lý.

Cáo trạng số 41/CT-VKSHL ngày 15/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Lê Vinh Quang về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên, sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị tuyên bố bị cáo Lê Vinh Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; mức hình phạt đối với bị cáo từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tinh từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 19/4/2023); không áp dụng

́ hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo; vật chứng tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và các sim điện thoại; tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Redmi Note 11 màu đen; 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh và số tiền 100.000 đồng và buộc bi ̣ cáo phải chịu 20.000 đồng án phi hinh sự sơ thẩm.

́ ̀

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, đồng ý với Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo cải tạo, sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luâ ̣n tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Vào hồi 16h 45’ ngày 19/4/2023 Lê Vinh Q bán cho Lại Văn B 01 gói nhỏ ma túy loại Heroine với giá 100.000 đồng có khối lượng 0,033gam thì bị Công an huyện Hậu Lộc bắt quả tang, khám xét và thu giữ của Lê Vinh Quang 01 gói nhỏ loại Heroine có khối lượng 0,285 gam Q mang theo người nhằm mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.

Kết luận giám định số 1562/KL-KTHS ngày 24/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,285g (không phẩy hai tám năm gam), loại Heroine; chất bột màu trắng dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M3 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,033g (không phẩy không ba ba gam), loại Heroine.

Hành vi của Lê Vinh Q đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất của vụ án thì thấy: Hành vi của bị cáo Lê Vinh Q đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu đến xã hội. Do đó cần phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo, giáo dục chung cho xã hội và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, bố mẹ bị cáo là người có công, bố đẻ được Nhà nước tặng Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba; cả bố, mẹ đẻ đều được Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, hạng Ba; bản thân bị cáo được Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục, là giáo viên dạy giỏi được hiệu trưởng nhà trường chứng nhận. Do đó bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo là người nghiện ma tuý nhiều năm nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Số ma túy còn la ̣i sau giám đi ̣nhlà vật thuô ̣c Nhà nướ c cấm lưu hành; các sim điện thoại số 0763014858 và số 0983515113 là phương tiện dùng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại Redme Note 11 màu đen thu giữ của Lê Vinh Q; 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh thu giữ của Lại Văn B là công cụ, phương tiện dùng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu nô ̣p vào ngân sách nhà nước.

Số tiền 100.000 đồng bị cáo Lê Vinh Q bán ma túy cho Lại Văn B là tiền do phạm tội mà có cần tịch thu nô ̣p vào ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án và không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự;

Điểm a, b khoản2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Vinh Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Vinh Q 02 (Hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ( ngày 19/4/2023).

Vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định trong phong bì niêm phong, ghi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, có đóng 06 dấu đỏ và 02 chữ ký gồm: Lê Minh T và Vũ Văn L và các sim điện thoại. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Redme Note 11 màu đen, 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 34/BBVC-CCTHA ngày 15/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc).

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) theo uỷ nhiệm chi ngày 19/6/2023 tại Kho bạc Nhà nước huyện Hậu Lộc.

Án phí: Buộc bị cáo Lê Vinh Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thi người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ