vanban.org

Bản án 39/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cờ Đỏ, TP. Cần Thơ Tuyên án 12/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trương Thẩm Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Trương Thẩm Đoàn 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2023. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ có trách nhiệm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Thẩm Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
H HUYỆN CỜ ĐỎ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HS-ST
Ngày: 12-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ - TP. CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hậu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Thọ

Ông Nguyễn Vĩnh Khải

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Mỹ Yên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Mạc Thị Thư – Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 9 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Thẩm Đ, sinh ngày 05/9/1997 tại huyện C, thành phố Cần Thơ.

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Chỗ ở: như trên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Hòa Hảo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Tấn S (S) và bà Đặng Thị Kim N (S); Anh chị em có 02 người, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1992; Chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2023 tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, thành phố Cần Thơ.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Bà Trương Thị Bích T, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. (Có mặt)

- Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1955. Địa chỉ: Khu V L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt)

- Ông Hồ Minh M, sinh năm 1995. Địa chỉ: Khu V L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhận được tin báo của người dân Trương Thẩm Đ có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vào lúc 11 giờ 50 phút, ngày 02/6/2023 Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, thành phố Cần Thơ tiến hành khám xét khẩn cấp trên người của Trương Thẩm Đ phía trước nhà số E, thuộc ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Tang vật thu giữ gồm: 01 đoạn ống nhựa được hàn kín, bên trong có tinh thể không màu (thu giữ trong túi quần phía sau bên trái của Trương Thẩm Đ); 01 cái quần Jean đã qua sử dụng; 01 xe mô tô biển kiểm soát 65F1-208.05.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C tiến hành niêm phong 01 đoạn ống nhựa được hàn kín, bên trong có tinh thể không màu gửi giám định.

Quá trình điều tra xác định: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 10 giờ 45 phút, ngày 02/6/2023 Trương Thẩm Đ mượn xe mô tô biển kiểm soát 65F1 - 208.05 của chị ruột là Trương Thị Bích T điều khiển từ nhà đến rạch M thuộc xã T, huyện C gặp người thanh niên khoảng 30 tuổi (không biết rõ họ tên, địa chỉ) mua ma túy với giá 200.000 đồng, sau khi mua được ma túy Đ điều khiển xe chạy về nhà, khi vừa đến phía trước nhà số E, thuộc ấp T, xã T, huyện C, thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C khám xét thu giữ.

Tại Kết luận giám định số: 183/KL-KTHS, ngày 09/6/2023 của Phòng K Công an thành phố C kết luận: tinh thể không màu trong đoạn ống nhựa gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1987. Tại biên bản xét nghiệm chất ma tuý ngày 02/6/2023 Trương Thẩm Đ dương tính chất ma túy tổng hợp.

Đối với người thanh niên bán ma túy cho Đ, do không biết họ tên, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc, Cơ quan Cảnh sát điều - Công an huyện C tiếp tục xác minh làm rõ, nếu đủ cơ sở sẽ xử lý sau. Đối với xe mô tô thu giữ của Trương Thẩm Đ. Qua tra cứu xe mô tô biển kiểm soát 65F1 - 208.05 do Hồ Minh M là chủ sở hữu xe này ông M đã bán nên không yêu cầu. Riêng Trương Thị Bích T cho Trương Thẩm Đ mượn xe mô tô biển kiểm soát 65F1 - 208.05 thì không biết Đ đi mua ma túy tàng trữ để sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C không xử lý đối với T. Đối với các vật chứng đang tạm giữ chờ xử lý.

Tại Cáo trạng số 31/CT-VKSCĐ ngày 15/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ đã truy tố bị cáo Trương Thẩm Đoàn về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay:

Bị cáo Trương Thẩm Đ trình bày, thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật hình sự, mong được sự khoan hồng của pháp luật, bị cáo hứa sẽ không tái phạm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Bích T trình bày, bà xin nhận lại xe mô tô biển kiểm soát 65F1 - 208.05, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ trình bày quan điểm tranh luận: Vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã nêu trong cáo trạng. Đồng thời phân tích tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, miễn hình phạt tiền cho bị cáo Đ.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy gói niêm phong số 183/KL-KTHS ngày 09/6/2023, ma túy còn lại 0,1797 gam loại Methamphetamine của Phòng K Công an thành phố C và 01 cái quần Jean (đã qua sử dụng). Trả lại cho bà Trương Thị Bích T 01 xe mô tô, nhãn hiệu Wave S, màu đen xám, biển kiểm soát 65F1-208.05.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, bị cáo biết lỗi.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Trương Thẩm Đ: Lời khai của bị cáo tại phiên toà sơ thẩm hôm nay phù hợp với các biên bản ghi lời khai và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

Vào khoảng 10 giờ 45 phút, ngày 02/6/2023 bị cáo Trương Thẩm Đ mượn xe mô tô biển kiểm soát 65F1 -208.05 của chị ruột là Trương Thị Bích T điều khiển từ nhà đến rạch M thuộc xã T, huyện C gặp người thanh niên mua ma túy với giá 200.000 đồng, sau khi mua được ma túy bị cáo Đ điều khiển xe chạy về nhà, khi vừa đến phía trước nhà số E, thuộc ấp T, xã T, huyện C, thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C khám xét thu giữ. Tại kết luận giám định số: 183/KL-KTHS, ngày 09/6/2023 của Phòng K Công an thành phố C kết luận: tinh thể không màu trong đoạn ống nhựa gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1987. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ.

Bị cáo có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực để nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo Trương Thẩm Đ đã vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh và trật tự tại địa phương. Chất ma túy nói chung là dược chất rất nguy hiểm về nhiều mặt nếu không được quản lý sử dụng đúng mục đích. Nhà nước thống nhất quản lý chất ma túy nhằm đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh của xã hội; đồng thời, Nhà nước cũng nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy. Bản thân bị cáo nhận biết hành vi của mình là trái pháp luật, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội, nhưng để thoả mãn cơn nghiện của bản thân bị cáo đã tàng trữ ma túy để phục vụ mục đích cá nhân. Điều đó cho thấy, bị cáo cố ý xem thường pháp luật nên Hội đồng xét xử thiết nghĩ cần có một mức án nghiêm khắc để giáo dục, răn đe bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với bà Trương Thị Bích T cho bị cáo Đ mượn xe mô tô biển kiểm soát 65F1 - 208.05 thì không biết Đ đi mua ma túy tàng trữ để sử dụng nên không xử lý đối với bà T.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển kiểm soát 65F1 -208.05 bà Trương Thị Bích T là chị ruột của bị cáo Đ, do không biết bị cáo dùng xe này vào việc tàng trữ trái phép chất ma túy nên cần trả lại. Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong số 183/KL-KTHS ngày 09/6/2023 của Phòng K Công an thành phố C và 01 cái quần Jean (đã qua sử dụng).

Về án phí: Bị cáo Trương Thẩm Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Thẩm Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Trương Thẩm Đoàn 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ có trách nhiệm:

- Giao trả cho bà Trương Thị Bích T 01 xe mô tô, nhãn hiệu Wave S, màu đen xám, biển kiểm soát 65F1-208.05.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 183/KL-KTHS ngày 09/6/2023, ma túy còn lại 0,1797 gam loại Methamphetamine của Phòng K Công an thành phố C và 01 cái quần Jean (đã qua sử dụng).

3. Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trương Thẩm Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo để xin Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ