vanban.org

Bản án 39/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 30/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc T 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã BM, tỉnh V nhận được quyết định thi hành án.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Ngọc T - Phạm tội “Đánh bạc” - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc T phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH TÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HS-ST
Ngày: 30 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Đức

Ông Lê Ngọc Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Điền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Duẩn - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Lê Ngọc T (tên thường gọi là H), sinh ngày 10/11/1979 tại thị xã BM, tỉnh V; Nơi cư trú: Tổ 18, ấp Thuận T C, xã TA, thị xã BM, tỉnh V. Chỗ ở hiện nay: Ấp Thuận N, xã TA, thị xã BM, tỉnh V; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H (chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ Nguyễn Cẩm H và con có 02 người (sinh năm 2009 và sinh năm 2014); Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần (ngày 22/12/2022 bị Công an huyện BT, tỉnh V ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng; Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Tổ 07, ấp Thuận N, xã TA, thị xã BM, tỉnh V. (vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Ấp Thuận N, xã TA, thị xã BM, tỉnh V. (vắng mặt)

3. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Ấp MT, xã MT, huyện BT, tỉnh V. (vắng mặt)

4. Anh Hồ Hồng H, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Ấp Mỹ T, xã MT, huyện BT, tỉnh V. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 06/3/2023, Lê Ngọc T đến quán cà phê “Hảo” của chị Lê Như H, sinh năm 1995 thuộc tổ 02, ấp Mỹ T, xã MT, huyện BT, tỉnh V để uống nước. Lúc này trong quán có Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc S, Nguyễn Văn L và Hồ Hồng H ngồi uống nước chung thì T, S, T và L biết điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 Pro của anh H có ứng dụng trò chơi giải trí lắc bầu cua nên rủ nhau mượn điện thoại của anh H chơi lắc bầu cua trên điện thoại di động ăn thua bằng tiền.

Cách thức chơi như sau: Sử dụng điện thoại di động mở ứng dụng trò chơi lắc bầu cua rồi người làm cái nhấn phím khởi động chơi, những người còn lại lựa chọn hình bầu, cua, tôm, gà, cá, nai để đặt tiền; khi trên màn hình điện thoại có kết quả hình các con vật mà người chơi đặt thì người chơi thắng, người làm cái thua. Trường hợp người đặt tiền đặt 01 con vật nào trên màn hình điện thoại di động, khi trên màn hình điện thoại hiện kết quả có 02 hoặc 03 hình con vật giống nhau thì tỷ lệ thắng sẽ được nhân 2 hoặc 3 lần số tiền đã đặt. Người chơi làm cái xoay vòng, mỗi bàn có 03 người đặt tiền, mỗi bàn từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng.

Đến khoảng 22 giờ 05 phút cùng ngày, trong lúc T cùng với T, S và L đang chơi lắc bầu cua được thua bằng tiền thì bị Công an xã MT, huyện BT, tỉnh V đến phát hiện lập biên bản vụ việc về tham gia đánh bạc. Tang vật thu giữ gồm có: Số tiền thu trên chiếu bạc là 1.830.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Sam sung J7 Pro đang để chơi lắc bầu cua được thua bằng tiền và nhiều vật chứng có liên quan.

Qua điều tra T khai nhận đã cùng với T, S, L chơi lắc bầu cua được thua bằng tiền tại quán cà phê của chị Lê Như H nên bị Công an bắt quả tang.

Lê Ngọc T có 01 tiền sự về hành vi “Đánh bạc” đã bị Công an huyện BT, tỉnh V ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng (vào ngày 22/12/2022). Đến ngày 06/02/2023, T tiếp tục chơi lắc bầu cua ăn thua bằng tiền thì thời hiệu tiền sự chưa hết nên hành vi của T đã đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an BT, tỉnh V đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với T và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra đến nay.

Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra chứng minh được như sau:

Đối với Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc S, Nguyễn Văn L có chơi lắc bầu cua được thua bằng tiền, nhưng số tiền tham gia ít, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Vào ngày 13/02/2023 Công an xã MT, huyện BT, tỉnh V đã ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép” mỗi người với số tiền là 1.500.000 đồng.

Đối với Hồ Hồng H có đưa điện thoại di động hiệu Samsung J7 Pro có ứng dụng trò chơi lắc bầu cua cho các đối tượng chơi đánh bạc được thua bằng tiền, nhưng số tiền đánh bạc ít, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Vào ngày 13/02/2023 Công an xã MT, huyện BT, tỉnh V đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng và tịch thu 01 điện thoại Samsung J7 Pro của H.

Đối với chị Lê Như H (chủ quán nước) không có tổ chức, cũng không lấy tiền xâu từ việc đánh bạc nên không có cơ sở xử lý.

Về thu giữ và xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 1.830.000 đồng, thu tại chiếu bạc, Công an xã MT, huyện BT, tỉnh V đã ra quyết định tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 5.050.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn T, do anh T không sử dụng số tiền này để đánh bạc nên Công an xã MT, huyện BT, tỉnh V đã trả lại cho anh T xong.

Đối với số tiền 3.700.000 đồng thu giữ của Nguyễn Ngọc S, do anh S không sử dụng số tiền này để đánh bạc nên Công an xã MT, huyện BT, tỉnh V đã trả lại cho anh S xong.

Đối với các vật chứng và tài sản liên quan khác trong vụ án Công an xã MT, huyện BT, tỉnh V đã ra quyết định xử lý theo thủ tục hành chính.

Tại cáo trạng số: 35/CT-VKSBT ngày 31/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện BT, tỉnh V đã truy tố bị cáo Lê Ngọc T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của bị cáo, năng lực trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện BT, tỉnh V vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Ngọc T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc T phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt chính:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Ngọc T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ.

Miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Lê Ngọc T do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện BT đã giải quyết xong nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Ngọc T nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Ngọc T khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện BT, tỉnh V đã truy tố, bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bình Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Trong vụ án, những người làm chứng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, những người làm chứng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Xét thấy, việc vắng mặt nnững người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).

Xét lời khai nhận của bị cáo Lê Ngọc T tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản xảy ra sự việc, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa. Có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Lê Ngọc T có 01 tiền sự về hành vi “Đánh bạc” (đá gà ăn thua bằng tiền) bị Công an huyện BT, tỉnh V ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng vào ngày 22/12/2022. Đến ngày 06/3/2023 bị cáo T tiếp tục chơi lắc bầu cua ăn thua bằng tiền trên ứng dụng điện thoại di động cùng với Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc S, Nguyễn Văn L tại quán cà phê “Hảo”của chị Lê Như H thuộc tổ 02, ấp Mỹ T, xã MT, huyện BT, tỉnh V thì bị lực lượng Công an xã MT, huyện BT, tỉnh V bắt quả tang, thu giữ số tiền trên chiếu bạc là 1.830.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Ngọc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long truy tố bị cáo Lê Ngọc T với tội danh cùng điều luật nêu trên là có căn cứ, hoàn toàn đúng người, đúng tội.

. Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo Lê Ngọc T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, trật tự xã hội là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ và trừng trị nghiêm khắc. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật và việc đánh bạc bị nhà nước nghiêm cấm, là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng, phát sinh nhiều tội phạm khác nhau, nhà nước bằng các quy phạm pháp luật với các chế tài hình sự rất nghiêm khắc để giáo dục, trừng trị những người tham gia vào tệ nạn xã hội này, vì muốn có tiền để tiêu xài, không phải lao động vất vả nên bị cáo vẫn bất chấp phạm tội thể hiện tính xem thường pháp luật. Hành vi này của bị cáo còn tìm ẩn nguy cơ làm khánh kiệt tài sản của chính gia đình bị cáo và của nhiều người khác khi tham gia đánh bạc, đồng thời gây ảnh hưởng đến nếp sống văn minh và gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Chính vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung, ngăn chặn tệ nạn cờ bạc trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ tính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; mức độ sát phạt và số tiền ăn thua từ việc chơi lắc bầu cua không lớn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, khi quyết định hình phạt cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt tương ứng cho bị cáo.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, đã nhận thức được hành vi vi phạm nên áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử lý bị cáo là phù hợp, không cần cách ly khỏi xã hội vẫn đảm bảo việc răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo.

Xét thấy bị cáo Lê Ngọc T là người có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định, có xác nhận của chính quyền địa phương nên xét được miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện BT, tỉnh V đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ và đúng theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Ngọc T nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc T phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc T 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ.

Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã BM, tỉnh V nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Lê Ngọc T cho Ủy ban nhân dân xã TA, thị xã BM, tỉnh V để giám sát, giáo dục. Gia đình của bị cáo Lê Ngọc T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã TA, thị xã BM, tỉnh V trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Lê Ngọc T.

2. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Ngọc T nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ