vanban.org

Bản án 39/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 29/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 86/2022/HS-ST ngày 23 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Gi.

Xử phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Thế H 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo không có yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử khô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thế H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 86/2022/HS-ST ngày 23 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Gi.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KIÊN GI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HS-PT
Ngày: 29-3-2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Thuấn

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Diệu Hiền

Bà Trần Thị Chọn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Gi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Gi tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Gi xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2023/TLPT-HS ngày 31 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo Bùi Thế H, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 86/2022/HS-ST ngày 23 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Gi.

- Bị cáo có kháng cáo:

Bùi Thế H, sinh ngày 09/9/1975 tại Tiền Gi; Nơi cư trú: Hẻm 76, Sư Vạn Hạnh, khu phố 6, phường An Bình, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Gi; Nghề nghiệp: Kỹ sư xây dựng; Trình độ h vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Qu Khoa và bà Dương Thị Nguyệt; Có vợ tên La Thị Mỹ Linh, sinh năm 1977 và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được cho tại ngoại để điều tra, (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người bào chữa cho bị cáo Bùi Thế H: Luật sư Đoàn Công Thiện - Văn phòng Luật sư Đoàn Công Thiện thuộc đoàn luật sư tỉnh Kiên Gi.(Có mặt)

* Người bị hại: Ông Danh Nh; sinh năm 1977 (Có mặt)

Địa chỉ: khu phố Minh Lạc, thị trấn Minh Lương, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Gi.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Thế H là người có giấy phép lái xe hạng B2 theo quy định. Vào sáng ngày 12 tháng 4 năm 2021, H điều khiển xe ô tô 04 chỗ biển kiểm soát 68H-3951 (xe do h mượn của anh Đinh Văn Nhẫn) chở anh Lâm Tấn Dũng đi công việc ở An Minh. Đến trưa cùng ngày, H có tiếp khách và có uống khoảng 5 lon bia. Sau đó, H điều khiển xe quay lại Rạch Giá, khi đi đến địa phận huyện Châu Thành H và Dũng tiếp tục vào quán Lẩu dê B8 thuộc khu phố Minh Long, thị trấn Minh Lương và tiếp tục uống bia tại đây.

Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển xe ôtô trên chở anh Dũng lưu thông trên quốc lộ 61 theo hướng từ Quán “Lẩu dê B8” về Rạch Sỏi. Khi H điều khiển xe đến đoạn đường thuộc khu phố Minh Phú, thị trấn Minh Lương, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Gi thì anh Dũng ngồi ghế bên cạnh đã ngủ. Lúc này, H thấy phía trước bên trái theo chiều xe của H có ông Danh Nh đ dẫn bà Thị C đi bộ qua đường, ông Nh đi chậm và có đưa tay lên xin đường. Tuy thấy người đi bộ nhưng H không tiếp tục chú ý quan sát để giảm tốc độ nhường đường cho người đi bộ mà vẫn điều khiển xe chạy đến dẫn đến đầu xe bên ph đụng vào người của ông Danh Nh và bà Thị C khi cả hai đã đi qua đến giữa phần đường bên ph và cách lề ph chỉ khoảng 3m.

Tai nạn xảy ra làm ông Nh ngã xuống đường, bị thương và bất tỉnh. Còn xe ôtô do H điều khiển chạy một đoạn nữa mới dừng lại, lúc này bà C mới rơi từ nắp capo xuống đường trước đầu xe ôtô. Sau đó, ông Danh Nh và bà Thị C được gia đình đưa đi Bệnh viện đa khoa Tỉnh Kiên Gi cấp cứu và điều trị. Đến ngày 27/4/2021 ông Nh xuất viện, còn bà Thị C thì đến ngày 03/6/2021 được xuất viện.

Sau khi tai nạn xảy ra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã mời Bùi Thế H về Trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra để làm việc. Tại đây, H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại biên bản khám nghiệm và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra ngày 12 ngày 4 năm 2021 tại Quốc lộ 61 thuộc khu phố Minh Phú, thị trấn Minh Lương, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Gi thể hiện: Chọn hướng Minh Lương đi Rạch Sỏi làm hướng chuẩn để đo các dấu vết vào mép đường bên ph.

- Về hiện trường xảy ra tại nạn: Mặt đường thẳng mới được tr nhựa bằng phẳng, ban đêm có hệ thống đèn đường chiếu sáng, không có vạch kẻ tìm đường, mặt đường rộng 11,03m, ở hai đầu hiện trường không có biển báo hiệu.

- Dấu vết dầu nhớt dài 0,32m x 0,32m cách lề ph là 3,13m, cách trục sau bên ph xe ô tô biển kiểm soát 68H- 3951 là 4,62m và cách chiếc dép là 19m.

- Chiếc xe ô tô biển kiểm soát 68H - 3951 đầu quay về hướng Rạch Sỏi, đuôi xe về hướng Minh Lương, trục trước bên ph cách lề ph là 1,50m, trục sau bên ph cách lề ph là 1,50m, cách trụ điện số 478MP/12C là 7,67m, cách chiếc dép là 23,60m.

- Dấu vết máu dài 0,70m x 0,20m cách lề ph là 1,55m, cách trục trước bên ph của xe ô tô biển kiểm soát 68H - 3951 là 5,88m.

- Dấu vết dầu nhớt dài 2,1m x 046m, đầu vết dầu nhớt cách lề ph là 2,25m, cuối vết dầu nhớt cách lề ph là 3,12m. Đầu vết dầu nhớt các vết máu là 1,45m.

Tại phiếu đo và biên bản kiểm tra nồng độ cồn lập lúc 23 giờ 55 phút ngày 12/4/2021 thể hiện trong hơi thở đối với Bùi Thế H: là 0,654mg/L (không phảy sáu trăm năm mươi bốn miligam trên một lít khí thở).

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 268/TCT ngày 18 tháng 6 năm 2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Gi đối với ông Danh Nh kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo phần mềm vùng gối – cẳng chân ph (vết 1, 2, 3), vùng gối trái mặt trong và vùng gối trái mặt ngoài (vết 1, 2).

- Gãy xương mâm chày ph, xương chưa liền, hiện tại còn dụng cụ kết hợp xương và còn hạn chế chức năng vận động mức độ nhẹ.

2. tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 23% (hai mươi ba phần trăm).

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 326/TGT ngày 19 tháng 7 năm 2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Gi đối với bà Thị C kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo phần mềm vùng chẩm ph, vùng cánh tay ph, vùng khuỷu - cẳng tay ph, vùng cẳng chân trái.

- Phẫu thuật vùng cổ trước (Mở khí quản đặt Canule).

- Chấn thương tay ph: Gãy xương cổ gi phẫu (1/3 trên), di lệch, chồng ngắn; Gãy xương 1/3 dưới có mãnh xương rời, gập góc, chưa liên xương; gãy xương trụ 1/3 trên (xương mỏm khuỷu). Hiện tại không vận động được khớp vai và tay ph.

- Chấn thương chân trái: Gãy 1/3 trên hai xương cẳng chân, di lệch xa, chồng ngắn, chưa liên xương. Hiện không vận động được chân trái.

- Chấn thương dập xuất huyết não r rác thái dương - trán 2 bên; xuất huyết kho dưới nhện, liêm não, lều não; Nứt sọ chẩm ph đến lỗ chẩm; Phù nề mô mềm chấm định ph. Hiện còn ổ tổn thương (ổ dịch) dưới màng cứng, nứt sọ chẩm ph, bệnh nhân mất nhận thức, không tự ăn uống, tiêu – tiểu không tự chủ (di chứng sống kiểu thực vật).

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 99% (chín mươi chín phần trăm).

*Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 86/2022/HS-ST, ngày 23 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Gi đã quyết định:

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Thế H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Áp dụng: Điểm b, e khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Thế H 03 (ba) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật dân sự, xử: Buộc bị cáo Bùi Thế H ph có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại như sau:

- Bồi thường cho người đại diện theo ủy quyền cho gia đình bà Thị C là ông Dương Văn Hiếu chi phí điều trị thương tích, tổn thất tinh thần và các chi phí khác với số tiền là 297.039.451 đồng, bị cáo được khấu trừ số tiền 97.039.451 đồng đã khắc phục trước cho gia đình bị hại.

- Bồi thường cho ông Danh Nh chi phí điều trị và các khoản khác với số tiền là 44.803.000 đồng. Bị cáo được khấu trừ số tiền 22.200.000 đồng đã khắc phục trước cho ông Nh.

Ngày 05/01/2023, bị cáo Bùi Thế H có đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm để điều tra xét xử lại.

Tại phiên tòa, bị cáo xin thay đổi nội dung kháng cáo, không yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm bị cáo thừa nhận Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b, e khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng tội và xin được hưởng án treo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Gi giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b, e khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng với quy định của pháp luật. Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo với mức án 03 năm tù là phù hợp tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo xin thay đổi nội kháng cáo, không yêu cầu huỷ bản án sơ thẩm mà bị cáo thừa nhận bản án sơ thẩm xét xử là đúng hành vi phạm tội của bị cáo và xin được hưởng án treo. Xét thấy tại phiên toà phúc thẩm hôm nay bị cáo kháng cáo xin được hường án treo nhưng không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.

* Luật sư bào chữa cho bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại với lý do cấp sơ thẩm không làm rõ nguyên nhân vụ tai nạn là do ông Danh Nh xô bà C đụng vào xe của bị cáo nên mới xảy ra vụ tai nạn và xem lại thương tích của bị hại Danh Nh có ph là do bị cáo gây ra hay không.

* Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo xin được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện đi làm để có tiền khắc phục cho gia đình người bị hại và nuôi hai con nhỏ, mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:

Xét đơn kháng cáo của bị cáo về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét gi quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về quyết định của Bản án sơ thẩm:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 12/4/2021 Bùi Thế H điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 68H-3951 lưu thông trên Quốc lộ 61 đi từ hướng thị trấn Minh Lương đi về hướng thành phố Rạch Giá. H điều khiển xe trong tình trạng có sử dụng rượu bia vượt mức quy định qua kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của bị cáo là 0,654mg/01 lít khí thở. Khi H điều khiển xe đến khu phố Minh Phú, thị trấn Minh Lương, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Gi thì lúc này H thấy phía trước có ông Danh Nh và bà Thị C đ đi bộ qua đường theo hướng từ lề trái s lề ph theo chiều xe của H. Khi khoảng cách giữa xe H với ông Nh và C còn cách nhau khoảng 20m nhưng H vẫn không giảm tốc độ nhường đường cho người đi bộ dẫn đến đầu xe của H đụng vào người của ông Danh Nh và bà Thị C, khi cả hai đã đi qua đến giữa phần đường bên ph và cách lề ph chỉ khoảng 3m. Tai nạn xảy ra làm cho bà Thị C bị thương tích đến 99%, còn ông Danh Nh bị thương tích 23%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Nh và bà C là 122%. Hành vi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 8 Điều 8 và khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ. Do đó, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm b, e khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng với quy định của pháp luật.

Về yêu cầu kháng cáo của bị cáo:

Sau khi xét xử sơ thẩm xong, bị cáo có đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để điều tra xét xử lại vụ án. Xét thấy bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được rằng khi tham gia giao thông đường bộ ph tuân thủ luật giao thông đường bộ. Thế nhưng khi điều khiển xe trong tình trạng có sử dụng rượu bia vượt mức quy định mà pháp luật cho phép và chủ quan không giảm tốc độ nhường đường khi nhìn thấy phía trước xe bị cáo ông Danh Nh và bà Thị C đ giơ tay xin qua đường. Hậu quả dẫn đến đầu xe bên ph của bị cáo đụng trực tiếp vào người ông Nh và bà C. Từ sự chủ quan, thiếu quan sát của bị cáo đã gây ra hậu quả lớn làm cho 02 người bị thương tật, bà C sức khỏe bị giảm súc đến 99% “di chứng sống kiểu thực vật” còn ông Nh thì sức khỏe suy giảm 23%. Hành vi vi phạm của bị cáo không những gây ảnh hưởng trực tiếp nghiêm trọng đến sức khỏe cũng như tinh thần của bị hại mà đây còn là nguyên nhân làm cho tình hình vi phạm tai nạn giao thông đường bộ ngày càng gia tăng.

Xét đơn kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử bị cáo mức án 03 năm tù là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên toà bị cáo xin thay đổi nội dung kháng cáo không yêu cầu cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm về điều tra xét xử lại mà xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo xin được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ vào chứng cứ, tài liệu và lời khai của người bị hại, người làm chứng, cũng như lời khai của bị cáo có trong vụ án điều thể hiện rõ bị cáo điều khiển phương tiện giao thông trong tình trạng sử dụng rượu, bia vượt quá mức quy định cho phép, từ xa bị cáo nhìn thấy ông Danh Nh và bà Thị C đi qua đường và có đưa tay xin đường nhưng vì ý thức chủ quan bị cáo nghĩ rằng bị cáo sẽ điều khiển xe vượt qua trước khi bà C và ông Nh đi qua đường nên không giảm tốc độ xe, hậu quả xe của bị cáo đụng vào bà C và ông Danh Nh gây nên hậu quả rất nghiêm trọng bà C thương tích lên đến 99% (di chứng sống kiểu thực vật) và ông Danh Nh là 23%. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo mức án 03 năm tù đầu khung hình phạt đã xem xét giảm nhẹ cho bị cáo. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo nhưng không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ mới, mặc khác bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng có hai tình tiết định khung hình phạt nên việc cho bị cáo hưởng án treo là không đủ sức răn đe và phòng ngừa chung. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã tuyên.

Về quan điểm của Kiểm sát viên: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã tuyên là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo là không có căn cứ. Bỡi lẽ người bị hại ông Danh Nh và bà Thị C khi đi qua đường có giơ tay xin đường từ xa, bị cáo có nhìn thấy ông Nh giơ tay xin đường nhưng không giảm tốc độ, bị cáo nghĩ rằng mình sẽ vượt qua trước khi ông Nh và bà Thị C đi qua đường, nhưng bị cáo cáo không vượt qua kịp hậu quả đã đụng vào ông Nh và bà Thị C gây thương tích. Việc luật sư cho rằng ông Danh Nh xô bà Thị C đụng vào xe của bị cáo nên mới xảy ra vụ tai nạn là không có cơ sở để xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận lời bào chữa của luật sư bào chữa cho bị cáo.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo ph chịu án phí hình sự phúc thẩm

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 86/2022/HS-ST ngày 23 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Gi.

2. Căn cứ vào điểm b, e khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Thế H 03 (ba) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo không có yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét lại.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo ph chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 86/2022/HS-ST ngày 23 tháng 12 năm 2022 của Tòa án nhân dân Châu Thành, tỉnh Kiên Gi không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ