vanban.org

Bản án 39/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H. Bà Trần Thị Hương được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

Bà Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) bà H đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0004562 ngày 03-4-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. Các đương sự có quyền làm đơn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRAN THI H-NGUYEN VAN D- LY HON"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H. Bà Trần Thị Hương được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HNGĐ-ST
Ngày 04-7-2023
V/v: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đinh Thị Thanh Thủy

2. Ông Nguyễn Đình Dũng

- Thư ký phiên tòa: Lê Thị Thanh Thủy, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

Ngày 04 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 120/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023, quyết định Hoãn phiên tòa số 141/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Khối H, phường N, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1977

Địa chỉ : Thôn P, xã N, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 02-3-2023, các tài liệu có tại hồ sơ vụ án nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:

Bà Trần Thị H và ông Nguyễn Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký tại UBND phường N, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An ngày 17/01/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian ngắn (khoản một năm) thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, trình trạng vợ chồng trầm trọng và đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay nên bà Trần Thị H yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

2. Ông Nguyễn Văn D vắng mặt và không có ý kiến trình bày trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn bà Trần Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn D, trú tại thôn P, xã N, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi nên quan tranh chấp được xác định là Ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà Trần Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Văn D được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt cả bà H và ông D là phù hợp quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Bà Trần Thị H và ông Nguyễn Văn D tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An ngày 17/01/2020 nên hôn nhân của bà H và ông D là hợp pháp. Theo bà H trình bày thì sau khi kết hôn vợ chồng sống một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Đối với ông Nguyễn Văn D, Tòa án đã làm đầy đủ các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông D không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà H.

Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà H và ông D là có thật, cả hai không tìm được hướng giải quyết nên đã sống ly thân; điều đó cho thấy trình trạng vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

Về con chung: Bà H trình bày không có.

Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Bà H trình bày không có.

Bà Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTV.QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, nộp và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H. Bà Trần Thị Hương được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

2. Bà Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) bà H đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0004562 ngày 03-4-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ