- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình, Ly hôn - bà Nguyễn Thị Nhạn và ông Xu Hui"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2023/HNGĐ-ST Ngày 27 - 9 - 2023 V/v tranh chấp “ hôn nhân và gia đình, ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Tố Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Cương;
2. Bà Lê Kim Chi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Thanh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang không tham gia phiên tòa.
Ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 56/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2023/QĐXXST-HN ngày 24 tháng 02 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2023/QĐST-HN ngày 16 tháng 3 năm 2023 và các Thông báo mở lại phiên tòa, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1996, nơi cư trú: số 458, ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Xu H, sinh năm 1992, nơi cư trú: Số 83, tổ 4, thôn Y Loan, trấn T, thành phố T, tỉnh H,Trung Quốc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:
Vào cuối năm 2018 bà N có quen ông Xu H qua mai mối, tìm hiểu nhau đến đầu năm 2019 bà N và ông Xu H đi đến hôn nhân có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Sở Dân chính tỉnh H Trung Quốc giấy chứng nhận kết hôn số J420000-2019-000380 cấp ngày 19-4-2019, trích lục ghi chú kết hôn số 33/TLGCKH ngày 15-8-2022 của Ủy ban nhân dân huyện T. Sau khi kết hôn một thời gian giữa bà N và ông Xu H phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về ngôn ngữ.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Xu H đã được Tòa án thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp, tống đạt Thông báo thụ lý và Lịch làm việc của Tòa án. Tuy nhiên, cơ quan có thẩm quyền của Bộ Tư pháp Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vẫn chưa có kết quả trả lời việc thực hiện ủy thác tư pháp.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt đến lần thứ hai. Chủ tọa phiên tòa công bố các đơn và tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được kiểm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn, ông Xu H, quốc tịch Trung Quốc, cư trú tại số 83, tổ 4, thôn Y Loan, trấn Trần Trường, thành phố Tiên Đào, tỉnh Hồ Bắc,Trung Quốc. Nguyên đơn cư trú tại xã Vĩnh Khánh, huyện T, tỉnh An Giang. Nguyên đơn khởi kiện ly hôn, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vụ án hôn nhân và gia đình không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên không có Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn, ông Xu H có địa chỉ tại Trung Quốc nhưng cơ quan có thẩm quyền của Bộ Tư pháp Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vẫn chưa có kết quả trả lời việc thực hiện ủy thác tư pháp tống đạt hồ sơ trực tiếp (Thông báo thụ lý và Lịch xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang). Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã đề nghị Đại sứ quán Việt Nam tại Thượng Hải -Trung Quốc thông báo trên Cổng thông tin điện tử về việc thụ lý giải quyết vụ án, đồng thời đăng thông tin trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao từ ngày 08-8-2023 đến nay đã quá thời hạn 01 tháng, Tòa án chưa nhận được ý kiến của ông Xu H về vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 228; điểm c khoản 6 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung:
2.1] Quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thị N và ông Xu H có quan hệ hôn nhân, đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Sở Dân chính tỉnh Hồ Bắc Trung Quốc giấy chứng nhận kết hôn số J420000-2019-000380 cấp ngày 19-4-2019, trích lục ghi chú kết hôn số 33/TLGCKH ngày 15-8-2022 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Nguyên đơn khởi kiện ly hôn và trình bày nguyên nhân xin ly hôn là do phát sinh mâu thuẫn bất đồng về ngôn ngữ.
Bị đơn, ông Xu H có địa chỉ tại Trung Quốc nhưng cơ quan có thẩm quyền của Bộ Tư pháp Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vẫn chưa có kết quả trả lời việc thực hiện ủy thác tư pháp tống đạt hồ sơ trực tiếp (Thông báo thụ lý và Lịch xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang). Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đã đề nghị Đại sứ quán Việt Nam tại Thượng Hải -Trung Quốc thông báo trên Cổng thông tin điện tử về việc thụ lý giải quyết vụ án, đồng thời đăng thông tin trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao từ ngày 08-8-2023 đến nay đã quá thời hạn 01 tháng, Tòa án chưa nhận được ý kiến của ông Xu H về vụ án.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, đời sống chung đã không còn trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn bị đơn là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, buộc nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp là 200.000 đồng
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; khoản 3 Điều 153; Điều 273; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Xử;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N.
1. Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Xu H.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000344 ngày 26-10-2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà Nguyễn Thị N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
5. Về lệ phí ủy thác tư pháp:
Bà Nguyễn Thị N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng), lệ phí ủy thác tư pháp, được trừ vào tiền tạm ứng chi phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0068326 ngày 01-11-2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà N đã nộp đủ lệ phí ủy thác tư pháp.
Thời hạn kháng cáo của bà Nguyễn Thị N là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Thời hạn kháng cáo của ông Xu H là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TP HCM; - VKSND tỉnh An Giang; - Cục THA dân sự tỉnh An Giang; - Ủy ban nhân huyện T; - Phòng KTNV và THA; - Tòa GĐ và NCTN; - Đương sự; - Văn phòng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Tố Giang |