vanban.org

Bản án 39/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Văn H được ly hôn với chị Trần Thị Ngọc A. Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Trần Ngọc H1, sinh ngày 21/02/2004 và cháu Nguyễn Trần Ngọc H2, sinh ngày 16/5/2008. Giao cho anh Nguyễn Văn H tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Ngọc H2 đến khi thành niên, chị Trần… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anhNguyễn Văn H yêu cầu ly hôn với chị Trần Thị Ngọc A"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỐT NỐT
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27-4-2023
V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Khúc Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Tăng Tài Thủ

2/ Ông Nguyễn Văn Đông

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Minh Thiện - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 250/2022/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2023/QĐXX-ST ngày 22 tháng 3 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 73/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10/4/2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1980 (có mặt)

Bị đơn: Chị Trần Thị Ngọc A, sinh năm 1978 (vắng mặt lần thứ 2 không lý do)

Cùng địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ nguyên đơn trình bày và yêu cầu như sau:

Hôn nhân giữa anh H và chị Ngọc A do tự quen biết, tìm hiểu khoảng 02 năm, thấy hợp nhau nên được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 2004. Đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre ngày 19/03/2004. C sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, vẫn sống chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống không ai quan tâm đến ai. Nguyên nhân do chị Ngọc A cờ bạc, thường xuyên cãi nhau với cha mẹ anh từ đó đời sống vợ chồng không hạnh phúc. Nhiều lần mong muốn vợ chồng đoàn tụ, nên anh khuyên nhưng chị Ngọc A không thay đổi. Từ đầu năm 2018 sống ly thân với nhau.

Về tình cảm đối với chị Ngọc A không còn nữa nên xin ly hôn.

Về con chung: có 02 con chung là cháu Nguyễn Trần Ngọc H1, sinh ngày 21/02/2004 và cháu Nguyễn Trần Ngọc H2, sinh ngày 16/5/2008. Ngoài ra không có con nuôi, con riêng nào khác. Kể từ khi ly thân cháu H2 sống chung với anh. Khi ly hôn anh yêu cầu được nuôi dưỡng cháu H2, không yêu cầu cấp dưỡng. Riêng cháu Ngọc H1 đã thành niên, đủ khả năng lao động, không bị mắc bệnh tật gì nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, riêng, nợ: không có, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn quá trình giải quyết dù đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Để giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân giữa anh H và chị Ngọc A. Tại biên bản xác minh ngày 07/02/2023 của Tòa án nhân dân quận T, địa phương cho biết anh H và chị Ngọc A là vợ chồng có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Trần Ngọc H1, sinh ngày 21/02/2004 và cháu Nguyễn Trần Ngọc H2, sinh ngày 16/5/2008. Cháu H2 hiện đang sống chung với anh H. Nguyên nhân anh Hậu và chị Ngọc A ly hôn không rõ. Chị Ngọc A vẫn còn đăng ký thường trú tại khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, đã đi làm xa, có về thăm nhà và con.

Phần các đương sự trình bày tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện được ly hôn với chị Trần Thị Ngọc A. Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Trần Ngọc H1, sinh ngày 21/02/2004 và cháu Nguyễn Trần Ngọc H2, sinh ngày 16/5/2008, yêu cầu nuôi dưỡng cháu H2, không yêu cầu chị Ngọc A cấp dưỡng nuôi con. Cháu Ngọc H1 đã thành niên có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, riêng và nợ: không có, không yêu cầu giải quyết.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về thủ tục tố tụng: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: anh Nguyễn Văn H được ly hôn với chị Trần Thị Ngọc A; Về con: giao cháu Nguyễn Trần Ngọc H2, sinh ngày 16/5/2008 cho nguyên đơn nuôi dưỡng, bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con, cháu Nguyễn Trần Ngọc H1, sinh ngày 21/02/2004 đã thành niên không yêu cầu giải quyết nên không đặt vấn đề giải quyết; Về tài sản chung, riêng và nợ không xem xét giải quyết do đương sự không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:

[1] Về tố tụng: theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đây là vụ án về hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chị Trần Thị Ngọc A có nơi cư trú tại: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận T theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Ngọc A vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh H và chị Ngọc A là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Về nguyên nhân dẫn đến ly hôn anh H cho rằng chị Ngọc A không quan tâm gia đình, cờ bạc và thường xuyên mâu thuẫn với cha mẹ anh từ đó đời sống vợ chồng không hạnh phúc và sống ly thân từ đầu năm 2018, không ai quan tâm đến ai. Quá trình giải quyết Tòa án đã triệu tập hợp lệ chị Ngọc A nhiều lần để tham gia tố tụng về yêu cầu xin ly hôn của anh H, nhưng đều vắng mặt. Xét thấy, đời sống hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho anh H được ly hôn với chị Ngọc A.

Về con: theo lời khai của anh H và kết quả xác minh của Tòa án, anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Trần Ngọc H1, sinh ngày 21/02/2004 và cháu Nguyễn Trần Ngọc H2, sinh ngày 16/5/2008. Khi ly hôn anh yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng cháu H2 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Cháu H2 đã trên 07 tuổi, quá trình giải quyết Tòa án không ghi nhận được nguyện vọng muốn sống với ai nhưng trong thời gian ly thân cháu H2 sống với anh H. Do đó, cần tiếp tục giao cháu H2 cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Cháu H1 đã thành niên, có khả năng lao động, không yêu cầu giải quyết nên không đặt vấn đề giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Đương sự không yêu cầu nên không đặt vấn đề giải quyết.

Về tài sản chung, riêng và nợ: đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: nguyên đơn phải nộp theo quy định.

Lời phát biểu của kiểm sát viên về phần thủ tục tố tụng, cũng như đề xuất ý kiến về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định và quyết định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, 227, 228, Điều 235, 262, 264, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 51, 53, 56, 57, 59, 69, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Văn H được ly hôn với chị Trần Thị Ngọc A.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Trần Ngọc H1, sinh ngày 21/02/2004 và cháu Nguyễn Trần Ngọc H2, sinh ngày 16/5/2008. Giao cho anh Nguyễn Văn H tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trần Ngọc H2 đến khi thành niên, chị Trần Thị Ngọc A không phải cấp dưỡng nuôi con. Cháu Nguyễn Trần Ngọc H1 đã thành niên, đủ năng lực hành vi dân sự nên không đặt vấn đề giải quyết.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho chị Trần Thị Ngọc A, không ai được cản trở chị Ngọc A thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung, riêng và nợ: đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được chuyển từ số tiền tạm nộp án phí sang án phí đã nộp theo biên lai số 0004826 ngày 21/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án. Chị Trần Thị Ngọc A được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự”.

Cỡ chữ