vanban.org

Bản án 39/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Hữu T được ly hôn chị Trương Thị M .

Về con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Hà V sinh ngày 04-12-2013 và Nguyễn Hữu Minh Đ sinh ngày 22-6-2021 cho chị Trương Thị M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh T ly hôn chị M"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Anh Nguyễn Hữu T được ly hôn chị Trương Thị M .
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN DƯƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HNGĐ-ST
Ngày 11-4-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Lý

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Dung

Bà Bùi Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 226/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hữu T; địa chỉ: Thôn D, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Trương Thị M ; địa chỉ: Thôn D, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện nộp tại Tòa án ngày 16 tháng 11 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Hữu T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Hữu T và chị Trương Thị M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số …, quyển số …/2002, ngày …-3-2002. Quá trình chung sống hòa thuận đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống chung, nghi ngờ lẫn nhau về tình cảm. Anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn chị Trương Thị M .

- Về con chung: Anh Nguyễn Hữu T và chị Trương Thị M có bốn con chung là Nguyễn Thị Kim A sinh ngày 24 tháng 5 năm 2002, Nguyễn Thị Thanh N sinh ngày 25 tháng 11 năm 2004, Nguyễn Hà V sinh ngày 04 tháng 12năm 2013 và Nguyễn Hữu Minh Đ sinh ngày 22 tháng 6 năm 2021; anh đồng ý để chị M nuôi 02 con Nguyễn Hà V và Nguyễn Hữu Minh Đ.Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh T chịu trách nhiệm đóng góp cho chị M số tiền là 2.500.000 đồng/01 con/01 tháng. Thời hạn nuôi con và cấp dưỡng nuôi con cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi. Đối với hai con Nguyễn Thị Kim A và Nguyễn Thị Thanh N đã trên 18 tuổi, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con.

- Về tài sản chung: Anh Nguyễn Hữu T trình bày vợ chồng có tài sản chung nhưng anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Trương Thị M trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị M xác nhận về thời điểm vợ chồng kết hôn và quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận đến năm 2015 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không chung thủy. Chị đã nhiều lần tạo cơ hội để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng tình trạng mâu thuẫn vợ chồng không cải thiện được, đến năm 2021 thì trở nên trầm trọng. Hiện nay, mặc dù sống cùng nhà nhưng vợ chồng chị sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Tuy nhiên, chị M không đồng ý ly hôn vì thương các con.

Về con chung: Chị và anh T có bốn con chung là Nguyễn Thị Kim A sinh ngày 24-5-2002, Nguyễn Thị Thanh N sinh ngày 25-11-2004, Nguyễn Hà V sinh ngày 04-12-2013 và Nguyễn Hữu Minh Đ sinh ngày 22-6-2021. Chị nhất trí với quan điểm của anh T là không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con đối với hai con Nguyễn Thị Kim A và Nguyễn Thị Thanh N đã trên 18 tuổi. Chị đề nghị Tòa án giao 02 con Nguyễn Hà V và Nguyễn Hữu Minh Đ cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, yêu cầu anh T đóng góp cấp dưỡng nuôi con 2.500.000 đồng/01 tháng/01 con, thời hạn nuôi con và cấp dưỡng nuôi con cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho ly hôn giữa anh Nguyễn Hữu T và chị Trương Thị M . Giao 02 con Nguyễn Hà V sinh ngày 04-12-2013 và Nguyễn Hữu Minh Đ sinh ngày 22-6-2021cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, anh T có trách nhiệm đóng góp cấp dưỡng nuôi con cho chị M 2.500.000 đồng/01 tháng/01 con; thời hạn nuôi con và cấp dưỡng nuôi con cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung, anh T và chị M không yêu cẩu Tòa án giải quyết. Về án phí: Anh Nguyễn Hữu T phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Hữu T khởi kiện xin ly hôn bị đơn là chị Trương Thị M đang cư trú tại thôn D, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh T và chị M đều vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ các điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh T và chị M.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Hữu T và chị Trương Thị M đã được xác lập là hợp pháp (Giấy chứng nhận kết hôn số …, quyển số …/2002, ngày …-3-2002 tại Ủy ban nhân xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng). Căn cứ vào lời khai của đương sự, tài liệu điều tra xác minh đã xác định được mâu thuẫn vợ chồng có tồn tại làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Nguyễn Hữu T được ly hôn chị Trương Thị M .

. Về con chung: Anh Nguyễn Hữu T và chị Trương Thị M có bốn con chung là Nguyễn Thị Kim A sinh ngày 24-5-2002, Nguyễn Thị Thanh N sinh ngày 25-11-2004, Nguyễn Hà V sinh ngày 04-12-2013 và Nguyễn Hữu Minh Đ sinh ngày 22-6-2021. Đối với hai con Nguyễn Thị Kim A và Nguyễn Thị Thanh N đã trên 18 tuổi, anh T và chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con. Hai bên đều có quan điểm để chị M trực tiếp nuôi 02 con chưa thành niên là Nguyễn Hà V và Nguyễn Hữu Minh Đ, anh T có trách nhiệm đóng góp cấp dưỡng nuôi con cho chị M 2.500.000 đồng/01 tháng/01 con, thời hạn nuôi con và cấp dưỡng nuôi con cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao cả hai con chung cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, anh T có trách nhiệm đóng góp cấp dưỡng nuôi con cho chị M 2.500.000 đồng/01 tháng/01 con, thời hạn nuôi con và cấp dưỡng nuôi con cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

. Về tài sản chung: Anh T và chị M trình bày vợ chồng có tài sản chung nhưng không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án này.

. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Hữu T được ly hôn chị Trương Thị M .

2. Về con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Hà V sinh ngày 04-12-2013 và Nguyễn Hữu Minh Đ sinh ngày 22-6-2021 cho chị Trương Thị M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Anh Nguyễn Hữu T cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Trương Thị M 2.500.000 đồng/01 tháng/01 con, kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con nêu trên, kể từ khi quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Về án phí: Anh Nguyễn Hữu T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004345 ngày 02 tháng 12 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Anh T phải nộp thêm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Hữu T, chị Trương Thị M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ