vanban.org

Bản án 39/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; 1.

Về quan hệ hôn nhân: bà Neàng Chanh R được ly hôn ông Chau Ra Q. Giấy chứng nhận kết hôn số 53/2018 ngày 02/5/2018 của Ủy ban nhân dân xã Văn Giáo, huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; 1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TỊNH BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 39/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 6 - 2023
“V/v tranh chấp về hôn nhân
và gia đình, ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phí Thị Phương Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Văn Hoàng; bà Nguyễn Thị Mai.

Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Neàng Sa Men - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 302/2022/TLST-HN&GĐ ngày 18 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023, giữa:

Nguyên đơn: Bà Neàng Chanh R, sinh năm 1999, nơi cư trú: tổ 16, ấp MR, xã VG, thị xã TB, tỉnh AG; vắng mặt.

Bị đơn: Ông Chau Ra Q, sinh năm 1995, nơi cư trú: tổ 15, ấp SS, xã VG, thị xã TB, tỉnh AG; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Neàng Chanh R trình bày:

Năm 2018, bà với ông Chau Ra Q tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên vào ngày 02/5/2018 theo giấy chứng nhận kết hôn số 53/2018. Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Chau Quy Sắk Ca N, sinh ngày 08/11/2015 hiện đang sống cùng ông Chau Ra Q. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian gần đây, vợ chồng phát sinh mẫu thuẫn, cãi vã và cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, bà với ông Chau Ra Q đã không còn sống chung với nhau nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Chau Ra Q; về con chung, tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện là: giấy chứng nhận kết hôn Neàng Chanh R - Chau Ra Q (bản chính); trích lục khai sinh tên Chau Quy Sắk Ca N (bản sao); bản trình bày bổ sung ý kiến ngày 01/6/2023 (bản chính) cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị đơn ông Chau Ra Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn bà Neàng Chanh R vắng mặt, có đơn trình bày bổ sung ý kiến ngày 01/6/2023 và xin vắng mặt tại phiên tòa.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48, Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án. Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: người tham gia tố tụng cơ bản đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn vắng mặt và có yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng: bà Neàng Chanh R và ông Chau Ra Q có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng; hiện bà Neàng Chanh R và ông Chau Ra Q đã không còn sống chung, không thể hàn gắn tình cảm để xây dựng gia đình hạnh phúc. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Neàng Chanh R đối với ông Chau Ra Q; về con chung, giao cháu Chau Quy Sắk Ca N cho ông Chau Ra Q được tiếp tục nuôi dạy, bà Neàng Chanh R không cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung, nợ chung, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận tại phiên tòa, nhận thấy:

* Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: nguyên đơn bà Neàng Chanh R khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Chau Ra Q; ông Chau Ra Q cư trú trên địa bàn thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Xét đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: trước khi phiên tòa được mở, bà Neàng Chanh R có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt và vắng mặt tại phiên tòa; ông Chau Ra Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Neàng Chanh R, ông Chau Ra Q.

* Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: bà Neàng Chanh R và ông Chau Ra Q chung sống với nhau từ năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 53/2018, ngày 02/5/2018 nên là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:

“Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.

Bà Neàng Chanh R trình bày, sau khi kết hôn, bà và ông Chau Ra Q chung sống hạnh phúc, thời gian gần đây phát sinh nhiều mâu thuẫn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã không còn sống chung với nhau, không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống, tình cảm vợ chồng giữa bà với ông Chau Ra Q đã không còn.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng và triệu tập ông Chau Ra Q đến làm việc nhưng ông Chau Ra Q không tham dự cũng như không có ý kiến phản hồi. Ông Chau Sóc và bà Neàng Cà Mách là cha, mẹ của ông Chau Ra Q nhận thay văn bản tố tụng của Tòa án và thông báo cho ông Chau Ra Q biết việc bà Neàng Chanh R khởi kiện ly hôn nhưng ông Chau Ra Q không cung cấp ý kiến, ông Chau Sóc và bà Neàng Cà Mách có khuyên nhưng Chau Ra Q và Neàng Chanh R không thể hàn gắn để xây dựng gia đình hạnh phúc. Điều này cho thấy, ông Chau Ra Q không quan tâm đến tâm tư nguyện vọng của bà Neàng Chanh R và không có thiện chí khắc phục mâu thuẫn để đoàn tụ gia đình. Xét thấy, tình nghĩa vợ chồng phải xuất phát từ hai phía, cả hai cùng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Thực tế, bà Neàng Chanh R xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông Chau Ra Q và giữ nguyên ý kiến trình bày, yêu cầu khởi kiện của mình, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Neàng Chanh R với ông Chau Ra Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét, yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân của bà Neàng Chanh R với ông Chau Ra Q là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. [4] Về con chung, cấp dưỡng: Bà Neàng Chanh R xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Chau Quy Sắk Ca N, sinh ngày 08/11/2015 hiện do ông Chau Ra Q đang nuôi dạy. Theo đơn trình bày bổ sung ý kiến ngày 01/6/2023 bà Neàng Chanh R không yêu cầu nuôi con chung, đồng ý để ông Chau Ra Q tiếp tục nuôi dưỡng Chau Quy Sắk Ca N, bà Neàng Chanh R không cấp dưỡng nuôi con; ông Chau Ra Q không có ý kiến đối với yêu cầu của bà Neàng Chanh R. Do đó, Hội đồng xét xử giao con chung Chau Quy Sắk Ca N, sinh ngày 08/11/2015 cho ông Chau Ra Q được tiếp tục nuôi dạy, bà Neàng Chanh R không cấp dưỡng nuôi con chung. [5] Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. [6] Về án phí sơ thẩm: bà Neàng Chanh R phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà Neàng Chanh R đã nộp. Ông Chau Ra Q không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Neàng Chanh R.

- Về quan hệ hôn nhân: bà Neàng Chanh R được ly hôn ông Chau Ra Q.

Giấy chứng nhận kết hôn số 53/2018 ngày 02/5/2018 của Ủy ban nhân dân xã Văn Giáo, huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung, cấp dưỡng: ông Chau Ra Q được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Chau Quy Sắk Ca Na, sinh ngày 08/11/2015; bà Neàng Chanh R không cấp dưỡng nuôi con.

Ông Chau Ra Q cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Neàng Chanh R trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

2. Về án phí sơ thẩm:

Bà Neàng Chanh R phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp theo biên lai số TU/2022/0008820 ngày 17 tháng 11 năm 2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện (nay là thị xã) Tịnh Biên; bà Neàng Chanh R đã nộp đủ án phí.

Ông Chau Ra Q không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ