vanban.org

Bản án 39/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M.

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Trần Minh S. Giấy chứng nhận kết hôn số 133/2010, ngày 28/12/2010 ngày của Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 39/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 22/3/2023
V/v “Ly hôn, t/c về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Hoài Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hòa

2. Ông Phan Minh Quốc

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Quốc Thắng – Là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 551/2022/TLST-HNGĐ ngày 12/12/2022 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/02/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33a/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08/3/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1988.

Địa chỉ: ấp B, xã M, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Số điện thoại: xxxx.xxx.xxx

- Bị đơn: anh Trần Minh S, sinh năm 1986

Địa chỉ: khóm H, thị trấn P, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Số điện thoại: xxxx.xxx.xxx

Nguyên đơn chị M có mặt. Bị đơn anh S vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày:

Sau một thời gian tìm hiểu, chị với anh Trần Minh S quyết định sống chung với nhau vào năm 2010, không tổ chức đám cưới nhưng có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân thị trấn P huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc tại quê nhà. Tuy nhiên do cuộc sống khó khăn nên vào năm 2014 vợ chồng quyết định lên Đồng Nai làm công nhân và thời gian này bắt đầu xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do anh S ghen tuông vô cớ dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, có lần còn anh S còn đánh chị. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài dẫn đến không còn tình cảm nên vào năm 2021 nhận thấy không thể tiếp tục chung sống nên chị quyết định về quê và hai vợ chồng cũng chính thức sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị M yêu cầu giải quyết như sau:

+ Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị M xin được ly hôn với anh Trần Minh S.

+ Về quan hệ con chung: có 02 con chung tên Trần Thị Thảo N sinh ngày 13/02/2011 và Trần Nguyễn Kim V sinh ngày 31/7/2015 hiện đang sống với chị M. Sau ly hôn chị M yêu cầu được tiếp tục nuôi con.

Về phần cấp dưỡng nuôi con: tại đơn khởi kiện chị M yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng. Nay chị M xin rút lại yêu cầu này.

+ Về tài sản chung và nợ chung: không có.

- Bị đơn anh Trần Minh S: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh S nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay anh S vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của chị M.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời hạn chuẩn bị xét xử:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như: Xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý và giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Quá trình thụ lý Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ khi tiến hành lập hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt và niêm yết hợp lệ các thông báo và quyết định, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định của pháp luật.

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Bị đơn vắng mặt không có lý do tại phiên tòa nên đã tự từ bỏ quyền của mình.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 8, 9, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên: chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Trần Minh S.

Về con chung: giao cháu Trần Thị Thảo Nguyên và Trần Nguyễn Kim Vàng cho chị M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần cấp dưỡng nuôi con do nguyên đơn tự nguyện rút.

Chị M là nguyên đơn nên phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1.1] Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn và nuôi con. Bị đơn anh Trần Minh S có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khóm H, thị trấn P, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.

Bị đơn anh Trần Minh S đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh S.

Về nội dung tranh chấp:

Chị Nguyễn Thị M và Trần Minh S chung sống với nhau từ năm 2010 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang; được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 133/2010, ngày 28/12/2010. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị M, thấy: trong quá trình giải quyết vụ án chị M trình bày rằng chị với anh S sống ly thân từ tháng 2021 cho đến nay. Khoảng thời gian vợ chồng sống ly thân anh S cũng có ý hàn gắn nhưng chị M không đồng ý do hiện nay tình cảm không còn nên không thể quay lại sống chung. Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 12/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn cũng thể hiện rõ hiện nay chị M và anh S không còn sống chung với nhau. Trong quá trình giải quyết Tòa án có tiến hành thông báo hòa giải nhằm mục đích động viên, hàn gắn nhưng anh S vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị M để xây dựng hạnh phúc gia đình và chăm sóc con. Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị M và anh S không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M.

Về quan hệ con chung: Qua chứng cứ chị M cung cấp thì chị M và anh S có 02 con chung tên Trần Thị Thảo N sinh ngày 13/02/2011 và Trần Nguyễn Kim V sinh ngày 31/7/2015. Từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay M là người trực tiếp cả hai con. Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/02/2023 nguyện vọng của cháu Thảo N và Kim V là được tiếp tục sống cùng với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Chị M cũng đồng ý với ý kiến của các cháu. Trong quá trình giải quyết, anh S cũng không có văn bản nào thể hiện ý kiến tranh chấp về phần con chung. Căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 giao hai cháu Thảo N và Kim V cho chị M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Trong đơn khởi kiện chị M yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng. Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa hôm nay, chị M xin rút lại yêu cầu này, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, việc rút yêu cầu này của chị M là hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Hội đồng xét xử quyết định đình chỉ đối với phần rút yêu cầu này.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Từ những phân tích trên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn là phù hợp.

Về án phí: chị M là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 điều 28, điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và khoản 1 điều 88 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M.

- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Trần Minh S.

Giấy chứng nhận kết hôn số 133/2010, ngày 28/12/2010 ngày của Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

- Về quan hệ con chung:

Giao con chung Trần Thị Thảo N sinh ngày 13/02/2011 và Trần Nguyễn Kim V sinh ngày 31/7/2015 (hiện đang sống với chị Nguyễn Thị M) cho chị Nguyễn Thị M được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Anh Trần Minh S không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị M phải tạo điều kiện cho anh S được quyền đến thăm nom con, không ai được ngăn cản.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hay việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung và nợ chung: không có. Tuy nhiên sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Nguyễn Thị M và anh Trần Minh S phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần cấp dưỡng nuôi con.

2. Về án phí: chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011404 ngày 12/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên đã nộp xong.

3. Về quyền kháng cáo:

Chị Nguyễn Thị M được quyền kháng trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Trần Minh S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (thị trấn) nơi cư trú để yêu cầu xem xét phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ