vanban.org

Bản án 39/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về…

Về hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn chị Hồ Thị Th. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Trà M (Giới tính: nữ), sinh ngày: 08/11/2018 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Đức D (Giới tính: nam), sinh ngày: 20/11/2020 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đ, chị Th không phải cấp…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về…
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TT
TỈNH TH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16/5/2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT, TỈNH TH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuấn

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hoà; bà Trương Thị Hồng Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh TH.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, tỉnh TH tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên

Trong ngày 16 tháng 5 năm 2023 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh TH đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2023; Về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20/4/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Đ; Sinh năm: 1993

Địa chỉ: Thôn SC, xã TM, huyện TT, tỉnh TH.

- Bị đơn: Chị Hồ Thị Th; Sinh năm: 1991

Địa chỉ: Thôn SC, xã TM, huyện TT, tỉnh TH.

Anh Đ và chị Th vắng mặt tại phiên toà (Anh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Th vắng mặt lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/10/2022, bản tự khai ngày 20/3/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Nguyễn Văn Đ trình bày:

- Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Hồ Thị Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TV, huyện NTM, tỉnh QN vào ngày 06/5/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống hòa thuận được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không cùng chung quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi cọ, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Trước đây anh Đ đã làm đơn đề nghị Toà án nhân dân huyện TT giải quyết ly hôn với chị Th nhưng sau đó rút đơn để vợ, chồng đoàn tụ. Khi về chung sống anh Đ và chị Th vẫn không thể hoà hợp, thời gian kéo dài khiến hai bên đều mệt mỏi. Nay anh Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị TAND huyện TT giải quyết cho anh Đ được ly hôn chị Th.

- Về con chung: Vợ, chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M (Giới tính: nữ), sinh ngày: 08/11/2018 và cháu Nguyễn Đức D (Giới tính: nam), sinh ngày: 20/11/2020. Sau khi ly hôn, anh Đ có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trà M và giao cháu D cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

- Về tài sản: Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai, chị Hồ Thị Th trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn Đ chung sống như vợ, chồng từ năm 2017. Sau đó đến ngày 06/5/2019, chị và anh Đ làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã TV, huyện NTM, tỉnh QN. Sau ngày cưới vợ, chồng chung sống hoà thuận đến năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh Đ có biểu hiện ngoại tình và đã bỏ đi theo người phụ nữ khác, không quan tâm gì đến gia đình và vợ, con. Chị và anh Đ đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay anh Đ làm đơn xin ly hôn chị, chị xét thấy con cái đang còn quá nhỏ nếu ly hôn thì con cái thiếu thốn tình cảm của bố mẹ nên chị Th không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M (Giới tính: nữ), sinh ngày: 08/11/2018 và cháu Nguyễn Đức D (Giới tính: nam), sinh ngày: 20/11/2020. Nếu anh Đ nhất quyết ly hôn, chị Th đề nghị được trực tiếp nuôi cả hai cháu và yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng cho mỗi cháu số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) hai cháu mỗi tháng số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung: Chị Th không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Sau đây viết tắt là BLTTDS); nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Xử cho anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn chị Hồ Thị Th. Giao cháu Nguyễn Thị Trà M (Giới tính: nữ), sinh ngày: 08/11/2018 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Đức D (Giới tính: nam), sinh ngày: 20/11/2020 chị chị Th trực tiếp nuôi dưỡn. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

- Về án phí: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn đối với chị Hồ Thị Th. Chị Th cư trú tại huyện TT, tỉnh TH. Nên xác định đây là vụ án ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TT, tỉnh TH, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ cho chị Th nhưng chị Th vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tiến hành mở phiên họp vắng mặt chị Th và thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho chị Th theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS. Chị Th đã được triệu tập đến tham gia hòa giải nhưng chị Th vắng mặt. Đây là trường hợp không tiến hành hào giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 BLTTDS.

Anh Đ và chị Th đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng anh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Th vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 BLTTDS, tòa án xét xử vắng mặt anh Đ và chị Th.

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Đ và chị Hồ Thị Th chung sống như vợ, chồng từ năm 2017. Đến ngày 06/5/2019, anh Đ, chị Th tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TV, huyện NTM, tỉnh QN. Như vậy anh Đ, chị Th kết hôn không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp.

Theo chị Th trình bày: Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do anh Đ có biểu hiện ngoại tình và đã bỏ đi theo người phụ nữ khác, không quan tâm gì đến gia đình và vợ, con. Hội đồng xét xử thấy: Chị Th không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì về việc anh Đ ngoại tình, chị Th không đồng ý ly hôn nhưng sau khi anh Đ rút đơn xin ly hôn để vợ chồng đoàn tụ thì cuộc sống, tình cảm của vợ chồng cũng không được cải thiện. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, chị Th cũng không đến Tòa án để tham gia hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Từ đầu năm 2023 đến nay chị Th thường xuyên vắng nhà, thi thoảng mới về nhà thăm các con, anh Đ là người trực tiếp nuôi dưỡng các con chung của vợ chồng. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho anh Đ được ly hôn chị Th là phù hợp.

Về con chung: Anh Đ và chị Th có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Trà M (Giới tính: nữ), sinh ngày: 08/11/2018 và cháu Nguyễn Đức D (Giới tính: nam), sinh ngày: 20/11/2020.

Khi ly hôn, anh Đ có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trà M và giao cháu D cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Chị Th đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng cho mỗi cháu số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), hai cháu mỗi tháng số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Hội đồng xét xử thấy: Nguyện vọng của anh Đ và chị Th đều muốn được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là chính đáng. Tuy nhiên từ khi anh Đ và chị Th sống ly thân, các con ở với anh Đ, được anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Tuy nhiên, cháu Nguyễn Đức D còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi rất cần có sự chăm sóc của người mẹ. Để Đ bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho các cháu, và khả năng kinh tế để nuôi dạy con tốt của anh Đ và chị Th, cần giao mỗi người nuôi 01 con. Cụ thể là giao cháu Nguyễn Thị Trà M cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Đức D cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau là phù hợp.

Về tài sản và công nợ: Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Đ phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Văn Đ được ly hôn chị Hồ Thị Th.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Trà M (Giới tính: nữ), sinh ngày: 08/11/2018 cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Đức D (Giới tính: nam), sinh ngày: 20/11/2020 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đ, chị Th không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.

Anh Đ, chị Th có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.

3.Về án phí: Anh Nguyễn Văn Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền anh Đ đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện TT, theo biên lai số AA/2021/0007926 ngày 17/01/2023. Anh Đ đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt anh Nguyễn Văn Đ và chị Hồ Thị Th. Anh Đ và chị Th có quyền làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự và Điều 7a,7b Luật sửa đổi, bổ sung luật thi hành án dân sự năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ