- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho anh Lê Văn H được ly hôn chị Nguyễn Thị Kiều H.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11-9-2023 V/v Tranh chấp hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI XUÂN, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Trung Thông.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Đức và ông Võ Sỹ Đàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Đông - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
Vào hồi 14 giờ 00 phút, ngày 11 tháng 9 năm 2023 tại Hội trường xét xử I Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 33/2023/TLST-HNGĐ ngày 17/7/2023 về việc “Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2023/QĐXX-ST ngày 09 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Lê Văn H; Sinh năm: 1983; Địa chỉ: Thôn Lam Th, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều H; sinh năm: 1982; Địa chỉ: Thôn Lam Th, xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn anh Lê Văn H trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Kiều H được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 04/12/2008 tại UBND xã Xuân Đan (Nay là Đan Trường), huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn do trong cuộc sống vợ chồng không hợp nhau. Nay nhận thấy mâu thuẫn giữa hai vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài thêm nữa, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị Kiều H. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung là Lê Nguyễn Bảo Ch - Sinh ngày: 28/8/2010, Lê Nguyễn Bảo A – Sinh ngày 22/02/2015 và Lê Phương A – Sinh ngày: 28/02/2019. Nguyện vọng của anh Lê Văn H khi ly hôn là được quyền nuôi dưỡng các con Lê Nguyễn Bảo Ch và Lê Nguyễn Bảo A, còn cháu Lê Phương A từ nhỏ đã ở với chị H nên anh nhường quyền nuôi cháu A cho chị Nguyễn Thị Kiều H. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Kiều H quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được cán bộ Tòa án đến nhà trực tiếp giao các văn bản tố tụng như Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Chị H nhận tất cả các văn bản trên nhưng không tham gia các buổi làm việc nên Tòa án không lấy được ý kiến của chị H về các vấn đề trong vụ án.
Các cháu Lê Nguyễn Bảo Ch và Lê Nguyễn Bảo A trên 07 tuổi có đơn nguyện vọng xin được ở với bố là Lê Văn H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nội dung vụ án, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn cư trú tại xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nghi Xuân theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt không có lý do sau 02 lần mở phiên tòa và được triệu tập hợp lệ, do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn H và chị Nguyễn Thị Kiều H kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Đan (Nay là Đan Trường), huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã giải thích cũng như mời bị đơn làm việc để hòa giải giúp vợ chồng hóa giải mâu thuẫn trở về đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình, nhưng bị đơn chị Nguyễn Thị Kiều H không hợp tác. Tòa án đã tiền hành các phiên hòa giải để mong muốn vợ chồng có phương án hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị H đều không hợp tác không tham gia hòa giải Như vậy có thể thấy chị H thực sự không coi trọng cuộc hôn nhân với anh H, không mong muốn cũng như không có phương án để giải quyết mâu thuẫn xây dựng hạnh phúc gia đình. Vì vậy cần khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh H và chị H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không thể đạt được vì vậy căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho anh Lê Văn H được ly hôn chị Nguyễn Thị Kiều H.
Về con chung:
Đối với các con Lê Nguyễn Bảo Ch và Lê Nguyễn Bảo A: Nguyện vọng của các cháu được ở với bố, anh Lê Văn H mong muốn được nuôi con; từ trước đến nay anh H đều quan tâm chăm sóc con chu đáo; anh H hiện là Giám đốc công ty TNHH phát triển Huy H thu nhập hàng tháng khoảng trên 20 triệu đồng. Như vậy có thể khẳng định việc giao các con Lê Nguyễn Bảo Ch và Lê Nguyễn Bảo A cho anh Lê Văn H chăm sóc nuôi dưỡng sẽ đảm bảo quyền lợi về mọi mặt trong sinh hoạt, học tập và phù hợp với nguyện vọng của các cháu nên HĐXX chấp nhận.
Đối với cháu Lê Phương A: Cháu hiện còn nhỏ (Mới hơn 4 tuổi), từ nhỏ đến nay cháu đều sống với mẹ; chị H hiện đang là giáo viên tại Trường tiểu học Bình A, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh có công việc và thu nhập ổn định đảm bảo việc nuôi dưỡng cháu. Vì vậy HĐXX quyết định giao cháu Lê Phương A cho chị Nguyễn Thị Kiều H chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn anh Lê Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh Lê Văn H là nguyên đơn trong vụ án hôn nhân và gia đình nên phải nộp án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; khoản 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử cho anh Lê Văn H được ly hôn chị Nguyễn Thị Kiều H.
2. Về con chung: Giao con chung Lê Nguyễn Bảo Ch - Sinh ngày: 28/8/2010, Lê Nguyễn Bảo A – Sinh ngày 22/02/2015 cho anh Lê Văn H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ 18 tuổi.
Giao con chung Lê Phương A – Sinh ngày: 28/02/2019 cho chị Nguyễn Thị Kiều H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi.
Anh Lê Văn H, chị Nguyễn Thị Kiều H không ai phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi dưỡng con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Anh Lê Văn H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0011924 ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, tiền án phí anh H đã nộp đủ.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện Nghi Xuân; - Chi cục THADS huyện Nghi Xuân; - Các đương sự; - UBND xã Đan Trường; - Lưu Hồ sơ; VP-TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký, đóng dấu) Hoàng Trung Thông |