- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa Phạm Thị Diệu N với Hồ Thanh Tuấn E"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Diệu N. Cho chị Phạm Thị Diệu N được ly hôn với anh Hồ Thanh T1 Em.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27-4-2023 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Văn Tính
2. Bà Ngô Thị Lệ Nga
Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Y Phụng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Thái Hưng – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2023/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Diệu N, sinh năm 1996. Địa chỉ cư trú: tổ B, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Hồ Thanh Tuấn E, sinh năm 1993. Địa chỉ cư trú: ấp L, xã L, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/01/2023 trong quá trình tiến hành tố tụng nguyên đơn chị Phạm Thị Diệu N, trình bày:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Tuấn E cưới nhau vào năm 2009, không nhớ ngày tháng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi cưới chị và anh Tuấn E cùng sống chung với gia đình anh Tuấn E, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chung sống không còn hạnh phúc nữa. Nguyên nhân do anh Tuấn E không lo cho vợ con chỉ lo cho gia đình bên anh Tuấn E, mỗi lần chị phàn nàn thì anh Tuấn E đánh chị, phá nhà cha mẹ chị. Ngoài ra, vợ chồng không còn mâu thuẫn nào khác. Chị và anh Tuấn E không còn sống chung từ năm 2021 cho đến nay, vợ chồng không có gặp nhau để hàn gắn tình cảm. Nay tình cảm vợ chồng không còn nữa, chị yêu cầu được ly hôn với anh Hồ Thanh T1 Em
[2] Về nuôi con chung: Chị và anh Tuấn E chung sống có 05 con chung, gồm Hồ Thanh Tuấn S, sinh ngày 11/11/2010, Hồ Thanh Tuấn K, sinh ngày 09/04/2012, Hồ Thị Trúc M, sinh ngày 25/04/2016, Hồ Thị Ngọc A, sinh ngày 29/7/2018 và Hồ Thanh Tuấn N1, sinh ngày 10/10/2019. Hiện 05 con chung đang sinh sống cùng chị từ khi chị và anh Tuấn E không còn sống chung cho đến nay, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 05 con chung và tự nguyện không yêu cầu anh Tuấn E cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị đang đi làm thuê (theo ghe cào cá), thu nhập hàng tháng trừ đi tiền sinh hoạt cá nhân thì còn dư khoảng 7.000.000đ – 8.000.000đ. Việc chăm sóc con chung và chi phí ăn uống, học hành, quần áo…của các con chung đều do chị lo. Anh Tuấn E1 hiện đang làm công nhân ở Bình Dương, tiền lương mỗi tháng được 7.000.000đ – 8.000.000đ nhưng chỉ chi xài riêng chứ không có gửi tiền tiếp chị nuôi con.
[3] Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình tiến hành tố tụng: Bị đơn anh Hồ Thanh Tuấn E đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Tuấn E vẫn không có mặt và cũng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cho Tòa án.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án theo đúng các quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Phạm Thị Diệu N, cho chị N được ly hôn với anh Hồ Thanh T1 Em. Về nuôi con chung: Giao con chung Hồ Thanh Tuấn S, sinh ngày 11/11/2010, Hồ Thanh Tuấn K, sinh ngày 09/04/2012, Hồ Thị Trúc M, sinh ngày 25/04/2016, Hồ Thị Ngọc A, sinh ngày 29/7/2018 và Hồ Thanh Tuấn N1, sinh ngày 10/10/2019 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, anh Tuấn E không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N tự nguyện không yêu cầu. Tài sản chung và nợ chung không có nên không đề cập đến.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Chị Phạm Thị Diệu N có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện H yêu cầu giải quyết ly hôn giữa chị và anh Hồ Thanh T1 Em. Hiện anh Tuấn E đang cư trú tại ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Phạm Thị Diệu N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Hồ Thanh Tuấn E đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham dự phiên tòa sơ thẩm nhưng anh Tuấn E vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị N, anh Tuấn E theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Diệu N và anh Hồ Thanh T1 Em được pháp luật công nhận. Vì, có đăng ký kết hôn, theo giấy chứng nhận kết hôn số 29, ngày 23/3/2016 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
Xét, yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị Diệu N là có căn cứ để chấp nhận, vì trong quá trình chung sống chị N, anh Tuấn E đã có mâu thuẫn với nhau là có thật. Nhận thấy trong hôn nhân vợ chồng cần phải thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Tòa án đã động viên để chị N đoàn tụ với anh Tuấn E nhưng chị N vẫn cương quyết ly hôn, vì vợ chồng chung sống không hạnh phúc và đã không còn sống chung với nhau từ năm 2021 cho đến nay. Anh Tuấn E1 đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Tuấn E cũng không đến Tòa án để hòa giải, hàn gắn tình cảm với chị N, điều này cho thấy anh Tuấn E không có thiện chí để đoàn tụ với chị N. Nhận thấy hôn nhân giữa chị Nhi và anh Tuấn E không thể hàn gắn được, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Phạm Thị Diệu N được ly hôn với anh Hồ Thanh T1 Em là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về việc nuôi con: Hội đồng xét xử nhận thấy 05 con chung Hồ Thanh Tuấn S, sinh ngày 11/11/2010, Hồ Thanh Tuấn K, sinh ngày 09/04/2012, Hồ Thị Trúc M, sinh ngày 25/04/2016, Hồ Thị Ngọc A, sinh ngày 29/7/2018 và Hồ Thanh Tuấn N1, sinh ngày 10/10/2019, hiện đang sống cùng chị Diệu N ổn định và được đảm bảo về mọi mặt. Đồng thời, con chung Tuấn S, Tuấn K có nguyện vọng sống cùng chị N. Do đó, nghĩ nên giao 05 con chung Tuấn S, Tuấn K, Trúc M, Ngọc A, Tuấn N1 cho chị N được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là đảm bảo tốt về quyền lợi mọi mặt và phát triển bình thường của con chung là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Hồ Thanh T1 Em không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N tự nguyện không yêu cầu là phù hợp với quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quyền thăm nom con chung: Sau khi ly hôn, anh Tuấn E1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh Tuấn E1 lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Tuấn E1 theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và nợ chung chị N trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc nguyên đơn chị Phạm Thị Diệu N chịu 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo lai thu số 0004240 ngày 31/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Diệu N. Cho chị Phạm Thị Diệu N được ly hôn với anh Hồ Thanh T1 Em.
2. Về việc nuôi con:
2.1 Giao con chung Hồ Thanh Tuấn S, sinh ngày 11/11/2010, Hồ Thanh Tuấn K, sinh ngày 09/04/2012, Hồ Thị Trúc M, sinh ngày 25/04/2016, Hồ Thị Ngọc A, sinh ngày 29/7/2018 và Hồ Thanh Tuấn N1, sinh ngày 10/10/2019 cho chị Phạm Thị Diệu N được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
2.2 Anh Hồ Thanh T1 Em không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N tự nguyện không yêu cầu.
2.3 Sau khi ly hôn, anh Tuấn E1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh Tuấn E1 lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị N có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Tuấn E1.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Diệu N chịu 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo lai thu số 0004240 ngày 31/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/4/2023). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Hồng Ngự; - Lưu hồ sơ, lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thùy Dung |