- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phan Thị Thu T yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn Anh T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Thu T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2023/HNGĐ-ST Ngày: 07 – 6 - 2023 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Trung Thành
2. Ông Nguyễn Viết Xứng
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Lương Hoàng– Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 81/2023/TLST-HNGĐ ngày 22/3/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/5/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2023/QĐST-HPT ngày 31/5/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Thu T, sinh năm 1996
Địa chỉ: Tổ 5B, ấp 2, xã Tân Đ, huyện Bắc Tân U, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Anh T, sinh năm 1995
Địa chỉ: Tổ 13, ấp Minh H, xã Tân T, huyện Đồng P, tỉnh Bình Phước
(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/12/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phan Thị Thu T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Nguyễn Văn Anh T có tự nguyện tìm hiểu và chung sống cùng nhau từ năm 2020, đến năm 2021 hai bên có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân T, huyện Đồng P, tỉnh Bình Phước. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 3/2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, chị Tg đã nhiều lần tha thứ nhưng anh T vẫn không thay đổi, vợ chồng thường xuyên cãi vã khiến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Hai bên cũng đã không còn chung sống cùng nhau từ tháng 3/2021 cho đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Có 01 con chung Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 24/3/2021. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn Anh T: Sau khi tòa án thụ lý đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh T không có ý kiến, cũng không đến Tòa án theo giấy triệu tập của Tòa án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh T.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, thành phần các đương sự tham gia vụ án và tại phiên tòa đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử cho chị T được ly hôn với anh T; giao con chung Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 24/3/2021 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét; Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Phan Thị Thu T khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với anh Nguyễn Văn Anh T, anh T có nơi cư trú tại xã Tân T, huyện Đồng P, tỉnh Bình Phước. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án Ly hôn, tranh chấp nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, chị T và anh T đều vắng mặt, tuy nhiên chị T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; đối với anh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục đưa vụ án ra xét xử.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T có tự nguyện tìm hiểu và chung sống cùng nhau vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân T, huyện Đồng P, tỉnh Bình Phước, do đó quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, vợ chồng thường xuyên cãi vã khiến tình cảm vợ chồng bị rạn nứt. Nhận thấy mâu thuẫn kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh T.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh T lên để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị T và tiến hành hòa giải đoàn tụ, tuy nhiên anh T không lên Tòa án làm việc cũng không có văn bản gửi Tòa án thể hiện nguyện vọng được đoàn tụ với chị T.
Theo biên bản xác minh ngày 09/5/2023 trưởng ấp cung cấp: Chị T và anh T trước đây có sinh sống tại ấp Minh H, xã Tân T, huyện Đồng P, tuy nhiên hiện chị T và anh T không còn chung sống cùng nhau, chị T và con đã chuyển về Bình Dương sinh sống. Do đó, Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn giữa chị T và anh T là có thật, vợ chồng không có sự quan tâm, chia sẻ, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, không thực hiện các nghĩa vụ tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, các bên đã không còn chung sống cùng nhau được thời gian dài làm cho mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị T được ly hôn với anh T
Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 24/3/2021, khi ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T không thể hiện nguyện vọng được nuôi con chung; đồng thời hiện nay cháu A chưa đủ 36 tháng tuổi do chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để ổn định cuộc sống sinh hoạt hàng ngày và đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, giao con chung Nguyễn Thị Thúy A cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị Phan Thị Thu T phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Về ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và nội dung vụ án là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Thu T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Thu T được ly hôn với anh Nguyễn Văn Anh T.
(Đã đăng ký theo Giấy chứng nhận kết hôn số 15 ngày 18/02/2021 của Ủy ban nhân dân xã Tân T, huyện Đồng P, tỉnh Bình Phước).
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 24/3/2021 cho chị Phan Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phan Thị Thu T không yêu cầu anh Nguyễn Văn Anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Phan Thị Thu T phải chịu số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0019257 ngày 22/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện Đồng Phú; - THA huyện Đồng Phú; - Đương sự; - UBND xã Tân T; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Hằng |